|
|
|
|
|
|
Triết học
1. Triết học nói một cách khái quát nhất là gì? Một số trong rất nhiều cách định nghĩa triết học như sau:
- Là khoa học tìm hiểu những tính quy luật chung nhất của thế giới tự nhiên và xã hội loài người.
- Là cách nhận thức bản chất sự vật và mối quan hệ giữa các sự vật và nhận thức của con người.
- Là tư duy tìm hiểu thế giới và xây dựng các thế giới quan theo nhận thức xác lập được.
2. Bất luận triết học được định nghĩa như thế nào và có biết bao nhiêu trường phái khác nhau, hình như từ khi sinh vật người trở thành người nghĩa là từ bản năng phát triển thành ý thức, con người luôn luôn bị kích thích, bị lôi cuốn, bị giày vò phải tìm hiểu về thế giới chung quanh mình và về chính bản thân mình. Sự bị kích thích, bị lôi cuốn, bị giày vò ấy sinh ra từ chính bản thân con người và tồn tại mãi chừng nào con người còn tồn tại. Đấy là triết học, là động lực và cũng là nội dung của triết học.
Như vậy triết học hình thành rất sớm. Có thể nói triết học là tiến trình và về phương diện nào đó là nội dung, là lịch sử tư duy của con người.
3. Khó mà nói được rằng triết học có cách đây từ 2-3 nghìn năm như một số nhà khoa học đã nêu ra. Nếu hiểu quá trình từ bản năng phát triển thành ý thức của con người là một mốc thời gian, thì triết học có lẽ ra đời sớm lắm. Một trong những hình thái triết học sớm nhất ngày nay chúng ta biết đến là tín ngưỡng. Ai nói được tín ngưỡng có từ bao giờ? Thừa nhận như thế, có thể nói triết học còn ra đời trước cả khi có chữ viết.
Tuy nhiên, triết học với khái niệm chúng ta đang thường dùng, ít nhất cũng xuất hiện từ khi nền văn minh Ai Cập ra đời khoảng 4-5 nghìn năm trước công nguyên. Đây là nền văn minh sớm nhất của nhân loại. Ngay trong thời kỳ này đã hình thành ra nhiều trường phái.
Ngày nay, những điều trí tuệ hiện tại có thể khám phá được và được thừa nhận, có thể tạm chia triết học thành hai trường phái: Triết học phương Đông tiêu biểu là từ văn minh Trung Quốc, và trường phái phương Tây bắt nguồn từ nền văn minh Hy La. Thế nhưng các trường phái triết học được sản sinh ra từ nền văn minh Ai Cập, nền văn minh Ấn Độ nên xếp vào trường phái nào? Về nội dung, triết học Ấn Độ có thể được xếp vào triết học phương Đông; trong khi đó các trường phái triết học Ai Cập có nhiều liên quan mật thiết sau này với triết học phương Tây. Bản thân thế giới và cuộc sống hình như là một hình thể được cấu trúc tổng hòa (gestalt theorie) không thừa nhận một sự giải phẫu rạch ròi nào. Tuy vậy, cứ tạm gọi hai trường phái Đông - Tây cho dễ thảo luận. Từ hai trường phái Đông - Tây này dưới góc độ nào đó còn có thể nói từ sự giao lưu hai trường phái này lại đâm chồi nảy lộc phát triển thành rất nhiều trường phái khác.
Người ta còn chia triết học theo thời gian: triết học cổ đại, triết học trung đại, triết học hiện đại. Song dù phân chia thế nào, triết học phát triển gắn liền với sự phát triển của con người mà trước hết là sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người.
Có xu hướng cho rằng triết học là cha đẻ của các bộ môn khoa học. Lại có ý kiến cho rằng sau Aristote khoa học tự nhiên bắt đầu tách khỏi triết học. Song đối với Albert Einstein triết học và khoa học tự nhiên hình như lại trở thành điều kiện và cứu cánh của nhau.
Phải chăng bây giờ có thể nói được rằng triết học và khoa học tự nhiên là hai sản phẩm trí tuệ của con người đang giúp con người tiếp tục khám phá ra những khoảng mới trong thế giới tự nhiên và trong xã hội loài người.
Khi viết về triết gia Friedrich Nietzsche (1844 - 1900), Stephan Zweig đưa ra một ý: “Con rắn không thể lột xác, nó sẽ chết. Cũng vậy, những trí tuệ bị cản trở thay đổi ý kiến thì nó không còn là trí tuệ nữa”.
Triết học là như vậy.
Người ta có thể khoác lên một trường phái triết học bất kể khái niệm hay quan điểm nào người ta muốn, bất kể sự phê phán nào người ta thích. Suy cho cùng, triết học là các quá trình tư duy nối tiếp, không mệt mỏi, có những thời kỳ hoang sơ mông muội, những thời kỳ rực sáng, song cũng có những bước đi lỡ làng. Nhưng con người không bao giờ biết dừng chân trên con đường đi vào thế giới bao la của sự vật và tâm hồn. Những bước vấp ngã trên con đường này góp phần không kém những bước nhảy vọt vào quá trình giành lấy những đỉnh cao mới của trí tuệ.
4. Triết học phát triển và gắn bó hữu cơ với sự phát triển của tư duy con người, của các hình thái kinh tế - xã hội con người lần lượt trải qua, thậm chí có nhiều lúc và về toàn cục nó là định hướng, hay làm chức năng thăm dò hướng đi cho sự phát triển của chính bản thân con người và xã hội loài người; ở tầm cao nhất định, nó trở thành lẽ sống, niềm khát khao hướng tới sự hoàn thiện, chỉ đạo hành động của con người...
Cũng vì lẽ này, khi xem xét, đánh giá một trường phái, một quan điểm triết học, sẽ thật là phiến diện hoặc thậm chí sai lệch nếu nhìn nhận nó tách rời khỏi hoàn cảnh kinh tế xã hội sản sinh ra nó và các phạm trù trước, sau có liên quan tới nó.
Khổng Tử (551-479 tr. C.N), tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh ở nước Lỗ. Ông cho rằng đối với mỗi cá nhân, sự sống chết, giầu nghèo đều do thiên mệnh quy định, mà “thiên mệnh” là ý chí của trời, trong khi ở vài ba khía cạnh Trời với Khổng Tử như là một quy luật. Mặt khác chính ông ta cũng lại cho rằng bằng nỗ lực chủ quan của riêng mình, con người có thể thay đổi được bản ngã để hướng tới cái thiện. Do có nhiều mâu thuẫn trong cách cắt nghĩa sự vật cho nên khó có thể xếp Khổng Tử vào hẳn một bên nào, duy tâm hay duy vật.
Mạnh Kha (371-289 tr. C.N), tự là Dư, người nước Lỗ. Tư tưởng của Mạnh Tử là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng của Khổng Tử. Với quan niệm “vạn vật có đầy đủ trong ta”, Mạnh Tử cho rằng con người không cần đi tìm chân lý ở ngoài thế giới vật chất khách quan mà chỉ cần trở về với nội tâm chủ quan bên trong là đủ.
Mặc Địch (480-420 tr. C.N), người nước Lỗ. Mặc Định xây dựng thế giới quan tôn giáo, coi mọi hành vi của con người, mọi chuyển đổi thế giới đều do ý chí của Thượng Đế chi phối. Ông đề cao vai trò của nhận thức cảm giác trong quá trình nhận thức của con người. Có điều đáng tiếc là Mặc Định không phân biệt được cảm giác đúng, cảm giác sai và vai trò của chúng trong quá trình nhận thức, do đó dẫn đến luận điểm cho rằng ảo giác cũng là một cảm giác đúng. Chính khía cạnh này đã đẩy ông vào hàng ngũ các nhà triết học duy tâm, hữu thần.
Lão Tử (chưa rõ năm sinh năm mất, áng chừng ông sống trong thế kỷ 6-5 tr.C.N.), họ Lý, tên Nhĩ. Trong tư tưởng của Lão Tử, về bản thể luận, Đạo là phạm trù quan trọng nhất, ông cho rằng mọi sự thành diệt của vạn vật đều từ Đạo mà ra. Đạo của ông nhiều khi được dùng với tư cách một thuật ngữ chỉ về quy luật và trật tự của tự nhiên. Gắn liền với Đạo còn có Đức, đó là “hình dáng của vạn vật”, nó tương đương với tính quy luật tồn tại và vận động của vạn vật. Đây là một trong những yếu tố duy vật của Lão Tử, nhưng còn nhiều điều phải lý giải. Lão Tử là người có tinh thần biện chứng trong lý luận về nhận thức. Ông cho rằng mọi vật luôn biến đổi trong từng khoảnh khắc, và bất cứ vật nào cũng có hai mặt đối lập, dựa vào nhau mà chuyển hóa, đến tận cùng thì xoay ngược lại.
Trang Tử (369-286 tr.C.N), người nước Tống. Vũ trụ quan của Trang tử là vũ trụ quan duy tâm tuyệt đối, ông cho rằng Đạo là thứ siêu không gian, siêu thời gian, siêu cảm giác, ngoài ra ông còn khẳng định con người là vật tự nhiên đã được nhận thức và sáng tạo trong khi đó Trời là điều kiện tự nhiên có sức tác động vào làm thay đổi. Trang Tử cho rằng đối tượng nhận thức của loài người đều là những hình ảnh giả tưởng, do vậy mọi sự đánh giá chỉ là nhận thức chủ quan khó nói được là đúng hay sai. Theo ông tinh thần phải hòa tan, phải thống nhất trực tiếp với tự nhiên, trời đất thì mới có nhận thức đúng.
Hàn Phi Tử (khoảng 280-233 tr.C.N) người nước Hàn. Ông là người có tư tưởng duy vật tiêu biểu thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Học thuyết của Hàn Phi tử chủ yếu bàn về chính trị, xã hội, tuy nhiên ông cho rằng Đạo là quy luật phổ biến của giới tự nhiên về sự hình thành của tự nhiên, nó tồn tại vĩnh hằng, và Đức là cái mà bản thân mỗi con người hiểu được. Theo Hàn Phi Tử thì phải nắm lấy cái Lý của vạn vật luôn biến hóa bất thường mà hành động.
Thuyết Âm dương - Ngũ hành: Thuyết này thể hiện quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên và ở đó cũng biểu hiện tư tưởng biện chứng sơ khai về tự nhiên, con người, xã hội Trung Quốc thời cổ đại. Đây còn là một quan niệm, một học thuyết, một triết lý tổng hợp nhiều học thuyết hay triết lý xuất hiện trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại và trung đại. Âm dương là hai thế lực đối lập nhau nhưng lại thống nhất với nhau trong vạn vật, là khởi nguyên của mọi sinh thành huỷ diệt. Không có gì thuần âm hay thuần dương mà cái nọ chứa đựng cái kia. Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thuyết này cho rằng các yếu tố vật chất nguyên thủy ấy không ở trạng thái tĩnh mà là động, chúng có một quan hệ biện chứng với nhau. Về căn bản, thuyết Âm dương - Ngũ hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới, đồng thời nó giải thích quy luật phát triển khách quan của thế giới, dựa vào sự vận động ấy lý giải sự vận động đời sống tinh thần của con người và xã hội.
Tuân Tử (298-238 tr. C.N), tên Huơng, tự là Khanh, người nước Triệu, ông được đánh giá là nhà triết học duy vật kiệt xuất trong lịch sử triết học Trung Quốc. Tuân Tử cho rằng tự nhiên vận hành có quy luật riêng, không liên quan tới xã hội loài người và sự tốt xấu của con người hầu như không ảnh hưởng tới nó. Ông còn chia thế giới vật chất thành các dạng và cho rằng con người là bậc cao nhất có tổ chức xã hội, có khuôn phép đạo đức. Tuân Tử phủ định quan niệm tôn giáo thần bí, ông quan niệm quỷ thần là do tâm lý sợ hãi của con người mà ra chứ chúng không có thực. Tuân Tử khẳng định con người có khả năng nhận thức được quy luật khách quan của giới tự nhiên và quá trình nhận thức bắt đầu từ kinh nghiệm cảm quan do các giác quan đưa lại.
Đổng Trọng Thư (180-105 tr. C.N), nhà triết học duy tâm tôn giáo. Hai mệnh đề quan trọng của ông là “Trời trao chính quyền” và “Trời và người có thể thông quan, hiểu biết lẫn nhaư”. Đổng Trọng Thư cho rằng mọi hiện tượng tự nhiên, xã hội cũng như trật tự của nó đều xuất phát và tuân theo ý chí của Trời, ngay cả thân thể, ý thức con người cũng do Trời ban cho.
Vương Sung (27-105), nhà triết học duy vật, ông cho rằng thế giới là do “khí” sinh ra, “khí” là một dạng vật chất, nó tồn tại vĩnh cửu. Vương Sung cũng khẳng định con người là sản phẩm của quy luật tự nhiên chứ không bởi một ý chí nào chi phối. Ông quan niệm cảm giác là khởi điểm trong quá trình nhận thức của con người đối với thế giới xung quanh.
Thiệu Ung (l011-l077), nhà triết học duy tâm, ông là người đi tiên phong trong việc kết hợp tư tưởng Nho-Phật-Lão. Thiệu Ung dựa vào cách giải thích của Dịch truyện để lý giải nguồn gốc vạn vật: “Trời đất sinh ở Thái cực. Thái cực là cái tâm của ta, muôn vật biến hóa là do Thái cực sinh ra, tức là do Tâm sinh ra. Bởi vậy mới nói Đạo của Trời có đủ ở người.” Đó là quan niệm duy tâm chủ quan về nguồn gốc thế giới.
Trương Tải (l020-l077), nhà triết học có nhiều tư tưởng duy vật, ông cho rằng thế giới hình thành từ Khí, khi Khí chưa ngưng tụ hoặc đã ngưng tụ mà tan ra thì gọi là trạng thái Thái hư. Như vậy Thái hư là Cơ sở vật chất đầu tiên của thế giới và nó là dạng vật chất không thể định nghĩa hoặc xem xét như vật cụ thể. Trương Tải cho rằng con người có hai bản tính, tính thiện là bản tính tự nhiên, tính thứ hai là do hấp thụ khí chất mà thành trong khi khí chất có dày mỏng, có trong đục cho nên mới có cái gọi là tính ác.
Chu Hy (1130-1200), nhà triết học duy tâm, ông quan niệm bản nguyên thế giới là Đạo, thuộc về “hình nhi thượng” (tinh thần), biểu hiện của Đạo là Lý, cũng thuộc “hình nhi thượng”. Còn Khí là “hình nhi hạ” (vật chất), biểu hiện của Khí là Vật. Theo Chu Hy có bao nhiêu Vật thì có bấy nhiêu Lý, đồng thời ông khẳng định Lý là thực thể tinh thần, là tính chất đầu tiên, còn Khí là thực thể vĩnh cửu, siêu không gian, độc lập tồn tại với sự vật cụ thể. Theo Chu Hy, Khí là điều kiện vật chất để hình thành vạn vật theo cái Lý đã có sẵn. Về con người, Chu Hy cho rằng có Hồn và có Phách, trọng đó Hồn chỉ đạo Phách và sự sống chết chính là hiện tượng tụ tán Khí của con người.
Vương Thủ Nhân (1472-1528), nhà triết học đời Minh, ông là người dựng lên hệ thống triết học duy tâm chủ quan triệt để nhất trong trong lịch sử triết học Trung Quốc. Vương Thủ Nhân cho rằng Tâm là Cơ sở cho mọi hiện tượng, sự vật tồn tại. Theo ông bản thân sự vật tồn tại là do cảm giác nhận biết của con người và đối tượng nhận thức của con người không phải là sự vật khách quan mà là trở về nhận thức cái Lý có sẵn ở trong Tâm mình.
Vương Phu Chi (1619-1692), nhà triết học duy vật, ông quan niệm có sự tồn tại khách quan của thế giới sự vật, hiện tượng và con người có thể cảm nhận được thế giới ấy. Vương Phu Chi khẳng định mỗi sự vật, hiện tượng đều có cái Thể và cái Dụng. Thể là bản chất sự vật còn Dụng là sự phát sinh của Thể. Theo ông tồn tại vật chất là tính thứ nhất và con người là sản vật của tự nhiên. Vương Phu Chi còn cho rằng sự vật luôn thay đổi hình thái nhưng bản chất thì bất sinh bất diệt.
Về đại thể, chia theo truyền thống thì triết học cổ đại Ấn Độ có 9 hệ thống và phân làm hai loại: Chính thống và Tà giáo. Hệ thống thứ nhất tin vào thế giới bên kia, hệ thống thứ hai thì ngược lại, không tin.
Sáu hệ thống được coi là hệ chính thống Véda
Triết học Mimansà, hệ thống này không thừa nhận sự tồn tại của thần và những người theo hệ thống đó cho rằng thế giới là một quá trình liên tục hình thành và tiêu diệt. Nguồn gốc vô thần của phái này bắt nguồn từ quan điểm của họ về Véda và thần linh Véda, hơn thế họ còn chống lại cả chủ nghĩa duy tâm triết học. Theo họ nếu khẳng định tất cả đều không tồn tại thì nghi lễ và hiệu quả của nó trở nên vô nghĩa.
Triết học Vedànta, (từ này có nghĩa là kết thúc Vedanta), nó bắt nguồn từ kinh Upanishad. Triết học Vedànta đưa ra nhiều luận thuyết như: thuyết về sự đồng nhất trong sự khác nhau, thuyết nhất nguyên có giới hạn, thu, thuyết nhất nguyên lưỡng phân...
Triết học Sàmkhya, (từ này có nghĩa là số đếm), tư tưởng chính của phái này thời kỳ đầu là duy vật, phủ định sự tồn tại của thần thánh và họ coi vật chất là khởi đầu vũ trụ, nó vĩnh cửu, luôn vận động. Bất kỳ vật thể nào của thế giới cũng là thể thống nhất không ổn định gồm 3 yếu tố. sattva-nhẹ, sáng, tươi vui, là trí tụê tiềm ẩn: Raias-động, kích thích, là năng lượng. Tamas-nặng, khó khăn, là khối lượng, quán tính. Sự tương tác của ba yếu tố trên khiến vật chất vận động và phát triển. Sau này phái Sàmkhya ngả sang duy tâm, họ bổ sung thêm Purusa, tức là phần linh hồn vào học thuyết của mình.
Triêt học Yoga, đây là học thuyết triết học tôn giáo, những người theo phái này cho rằng có linh hồn và Thượng Đế, nhưng Thượng Đế không sáng tạo thế giới và không can thiệp tới con người. Phương pháp Yoga có trong nhiều tôn giáo và nhiều hệ thống triết học. Yoga-Sutra nhắc đến 8 phương pháp: Yama-tình yêu thương rộng rãi. Niyama-tiết dục, tự ức chế. Asana-giữ thân thể theo những vị trí nhất định. Prànàyama-điều khiển tư duy. Dhàranà-chú ý. Dhàrana-thiền định. Samadhi-tập trung tư tưởng (thiền bậc cao).
Triết học Nyàya-Vaisesika, phái này đưa ra ba nội dung chủ yếu. Thứ nhất là lý thuyết nhận thức: họ cho rằng đối tượng nhận thức tồn tại khách quan và theo họ thì nhận thức có thể tin cậy, có thể không tin cậy. Và với họ thì nhận thức là đứng đắn khi nó phù hợp với bản chất của đối tượng, trong đó thực tế là thước đo duy nhất để kiểm tra nhận thức. Thứ hai là lý thuyết nguyên tử: những người theo phái này cho rằng thế giới là do nguyên tử tạo nên và tất cả các vật thể đều có kích thước. Phần nhỏ nhất của vật chất là nguyên tử và nó tồn tại vô thủy vô chung. Theo phái này thì nguyên tử của nước khác với nguyên tử của đất. Thứ ba là lý thuyết biện luận: hình thức biện luận của phái này có thể gọi là Ngũ đoạn luận với các tên gọi: luận đề, nguyên nhân, ví dụ, suy đoán, kết luận. Ở giai đoạn cuối phái này rơi vào hữu thần luận, họ công nhận thần và cho rằng thần dùng nguyên tử để tạo ra thế giới.
Ba hệ thống “tà giáo”
Đạo Jaina, đạo này chia ra hai phái chính, một phái là Svetamabara (mặc áo trắng), phái này có mặt ở khắp nơi, phái thứ hai là Digambara (ở truồng, áo trời), phái này chiếm số lượng nhỏ và thường họ ở những nơi kín đáo. Những người theo đạo này cho rằng thế giới vừa tĩnh vừa động, vừa biến vừa bất biến. Cái vĩnh hằng là bản thể, cái không vĩnh hằng, luôn thay đổi là các dạng của bản thể. Có quan điểm cho bản thể là vật chất, cũng có quan điểm cho rằng nó là linh hồn. Đặc biệt họ cho rằng Tồn tại bao giờ cũng “có thể” ở dạng nào đó và thuyết “có thể” này bổ sung cho thuyết không tuyệt đối. Về quan niệm khổ, họ cho rằng sống ác mới là khổ, còn sống theo điều thiện sẽ hạnh phúc. Đạo Jaina là hệ thống tôn giáo triết học có tính đa nguyên bản thể luận, nó chú ý nhiều đến lôgíc.
Phật giáo, người sáng lập là Buddha (563- 483 tr.C.N), về bản thể luận Phật giáo đưa ra tư tưởng vô ngã, vô thường, cho rằng bản thân con người và thế giới xung quanh chỉ là ảo ảnh, nó do vô minh mang lại. Thế giới được cấu tạo bởi nhóm các vật chất (Sắc) và tinh thần (Danh), hai cái này được chia làm 5 yếu tố (ngũ uẩn): Sắc (vật chất), Thụ cảm (cảm giác), Tưởng (ấn tượng), Hành (tư duy nói chung), Thức (ý thức). Cũng có thuyết cho rằng con người do sáu yếu tố (lục đại) tạo ra, sáu yếu tố đó là: Địa, thủy, hỏa, phong, không, thức. Bởi vì theo quan niệm của Phật giáo, danh và sắc chỉ hợp nhau trong thời gian tạm thời rời chuyển sang trạng thái khác cho nên “không có cái tôi”, tức vô ngã. Bản chất sự tồn tại là một dòng biến thiên liên tục không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, do đó không có ai tạo ra thế giới và cũng không tồn tại sự vĩnh cửu. Đặc biệt Phật giáo tiếp thu quan niệm luân hồi, cho rằng vật mất đi ở chỗ này để sinh ra ở chỗ khác, quá trình thác sinh luân hồi đó do nghiệp chi phối theo nhân quả. Sự luân hồi là bất tận và mục đích cuối cùng của Phật giáo là giải thoát con người khỏi sự luân hồi đó. Để thoát khỏi thì phải nhận thức được Tứ diệu đế, bốn chân lý tuyệt đối thiêng liêng: Khổ đế, Nhân đế (tập đế), Diệt đế và Đạo đế. Đích cao nhất mà Phật giáo đạt tới chính là Nirvana (Niết bàn), ở đó sự vô minh chấm dứt chỉ còn lại trạng thái yên tĩnh sáng suốt. Về căn bản Phật giáo nguyên thủy phủ định sự tồn tại của Đấng sáng tạo và có tư tưởng biện chứng. Trong quá trình phát triển Phật giáo chia làm ba phái chính: Phật giáo nguyên thủy, Đại thừa (cỗ xe lớn), Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ).
Đạo Lokayata, là trường phái triết học duy vật triệt để nhất trong số các trường phái triết học Ấn Độ cổ. Phái này chống lại sự suy lý của các phái chính thống, tức là chống lại kết luận về thế giới siêu nghiệm, về cuộc sống sau khi chết và cái gọi là Nghiệp. Những người theo phái này cho rằng không thể cảm nhận bằng kinh nghiệm thông thường những cái đó. Theo họ kết lụân chỉ có giá trị trong mối liên hệ với thế giới được nhận thức một cách kinh nghiệm, còn ứng dụng ngoài giới hạn các vật thể thế giới này là không thể được. Có thể nói đây là những nhà lôgíc học có sớm nhất trong hệ thống triết học Ấn Độ. Theo họ thì átman (cái Tôi) không thể tồn tại biệt lập, nó phải tồn tại trong thân thể và lý trí là thuộc tính của thân thể. Như vậy ý thức phát sinh từ vật chất.
Talét (khoảng 625-547 tr. C.N), nhà triết học, nhà toán học của Hy Lạp, ông cho rằng nguồn gốc và bản chất của thế giới là nước. Nước tồn tại vĩnh viễn, nó là nền tảng làm nên vòng tuần hoàn biến đổi của thế giới. Đối với Talét thì các vị thần chính là lực lượng quan trọng làm thế giới vận động, đồng thời ông khẳng định phải quy toàn bộ các tri thức về một nền tảng duy nhất của chúng thì mới nhận thức được.
Anaximan (khoảng 610-546 tr.C.N), nhà triết học, ông cho rằng nguồn gốc và Cơ sở của mọi sự vật là Apeirôn, một cái gì đó không thể định hình, vô cùng tận và bất diệt. Anaxinam cho rằng những gì mà thế giới hiện ra trước mắt chúng ta chưa hẳn đã là bản thân thế giới một cách đích thực. Chính ông là người đưa ra sự tiên đoán rằng môi trường đầu tiên của sự sống là ở biển. Anaxinam có tác phẩm nổi tiếng là cuốn Về giới tự nhiên.
Hêraclit (khoảng 544-483 tr.C.N), nhà triết học biện chứng của Hy Lạp, ông cho rằng Lửa là nguồn gốc sinh ra vạn vật và thế giới này là ngọn lửa vĩnh cửu vừa bùng cháy vừa tàn lụi. Lửa của Hêraclit là lửa vũ trụ, nó sản sinh ra cả tinh thần và linh hồn con người. Đối với Hêraclit thì chuẩn mực của mọi sự vật là Logos, cái được hiểu như là quy luật khách quan của toàn thể vũ trụ, đồng thời cũng là cái chuẩn mực nhất. Logos tồn tại cả ở hai dạng khách quan và chủ quan. Hêraclit quan niệm thế giới thay đổi, phát triển không ngừng, ông đưa ra luận điểm bất tử: Không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập nhưng trong những mối quan hệ khác nhau. Ông đánh giá cao vai trò của các giác quan trong nhận thức các sự vật đơn lẻ, mặt khác ông cho rằng mục đích tối cao của con người là nhận thức Logos, nhận thức sự thống nhất tổng thể của vũ trụ cho dù đây là một việc không dễ dàng cho bất cứ ai.
Pitago (sống khoảng nửa cuối thế kỷ VI tr.C.N), nhà triết học, nhà toán học, sinh ở Iôia, ông cho rằng các con số là khởi nguyên và là bản chất của sự vật, hơn nữa chúng còn là nền tảng, bản chất của các hiện tượng, ý thức. Linh hồn con người cũng cấu thành từ những con số và con số đóng vai trò quyết định trong nhận thức thế giới. Theo ông quá trình nhận thức cũng chỉ là quá trình thể hiện đối tượng nhận thức bằng những con số. Pitago đưa ra mô hình phân cấp xã hội theo ba nấc thang giá trị: Thứ nhất là những cái hảo hạng tốt đẹp, thứ hai là những cái có ích lợi và thứ ba là những cái làm ta thú vị.
Kxênôphan (khoảng 570-478 tr.C.N), nhà triết học sinh tại Iôia, ông cho rằng đất là Cơ sở của mọi cái trên thế giới, cùng với nước, đất tạo nên sự sống của muôn loài. Kxênôphan khẳng định chân lý chính là sản phẩm của nhận thức, tuy nhiên chân lý mang tính ngẫu nhiên do đó mà nhận thức của con người chưa hẳn là chắc chắn và mọi thứ chỉ là tương đối. Ngoài ra nhà triết học này còn quả quyết không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà con người sáng tạo ra tôn giáo cùng các vị thần.
Parmênit (khoảng cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ V tr.C.N), một trong những nhà triết học được Hêghen đánh giá là người tạo ra các điểm xuất phát thực sự của triết học. Parmênit phân biệt sự khác nhau Cơ bản giữa ý kiến thông thường với tri thức, giữa cảm giác với trí tuệ, do đó có hai cách nhìn thế giới và kèm theo hai dạng triết học: Triết học phù hợp với ý kiến và triết học phù hợp với chân lý. Ở loại thứ nhất con người nhìn thấy thế giới biến đổi không ngừng nhưng do các giác quan nhiều khi không chính xác do đó mà cần có nhận thức bằng trí tuệ. Loại nhận thức thứ hai này cho thấy rằng thế giới là cái tồn tại, không có gì là không tồn tại bởi vì nếu có cái không tồn tại thì chúng ta không thể biết là nó không tồn tại vì chúng ta không thể hình dung nó là cái gì. Theo ông bản chất chung của thế giới là tồn tại, và thế giới chỉ là sự biến đổi liên tiêp từ dạng tồn tại này sang dạng dạng tồn tại kia chứ không mất đi. Vậy là dẫn đến một kết luận quan trọng: Tồn tại là bất biến, và tồn tại chỉ có thể nhận biết bằng lý tính. Mọi tư duy bao giờ cũng là tư duy về sự tồn tại và hai cái này đồng nhất với nhau. Parmênit kết luận rằng trên thực tế chỉ tồn tại một thế giới duy nhất mà chúng ta không thể nhận thức được đơn thuần bằng các giác quan, đó chính là Tồn tại. Có thể nói sự cống hiến của Parmênit là vô cùng lớn với lịch sử triết học, ông đặt nền móng cho sự phát triển tư duy lý luận thời cổ và được mệnh danh cha đẻ của chủ nghĩa duy lý trong triết học và khoa học phương Tây.
Dênôn (khoảng 490-430 tr.C.N), một trong những nhà biện chứng lỗi lạc nhất thời cổ đại, ông đưa ra những nghịch lý có tên gọi Apôria (tiếng Hy Lạp cổ nghĩa là khó lý giải, không lối thoát) để bảo vệ và chứng minh cho quan điểm của thầy mình là Parmênit. Với những Apôria này, Dênôn muốn chứng minh rằng tồn tại là duy nhất và bất biến, còn tính đa dạng cũng như sự vận động của thế giới là không thực vì chúng chứa đựng những mâu thuẫn. Các Apôria chia làm hai nhóm chính, một nhóm đề cập đến tính đa dạng và vô cùng tận của thế giới, nhóm thứ hai đề cập tới vấn đề vận động để nhằm phủ nhận sự vận động trong thế giới hiện hữu. Ví dụ ở nhóm thứ hai Dênôn có những lập luận nổi tiếng như: Asin và con rùa, Mũi tên bay...những ví dụ này dẫn đến kết luận của Dênôn rằng không hề có sự vận động trong thế giới.
Empêđôc (khoảng 490-430 tr.C.N), xuất phát điểm của ông là thừa nhận bốn nguyên tố chính khởi nguyên của vạn vật: lửa, nước, không khí và đất, mỗi nguyên tố này tồn tại độc lập bất biến do đó chúng mang tính thần thánh. Vạn vật sinh ra từ sự kết hợp hay tách ra của các nguyên tố này. Empêđốc đi từ việc thần thánh hóa các nguyên tố đến nhân cách hóa các sự vật, ông gán cho chúng những thuộc tính của con người.
Anaxago (khoảng 500-428 tr.C.N), nhà triết học đầu tiên của Athens, trung tâm văn hóa Hy Lạp, ông quan niệm mỗi sự vật đều chỉ có thể sinh ra từ sự khởi nguyên của chính mình, nghĩa là từ hạt giống của mình và mỗi hạt giống bảo tồn mọi tính chất của sự vật cùng loại. Đồng thời Anaxago còn cho rằng các hạt giống không thuần nhất mà nó chứa đựng thêm những phẩm chất của tất cả các loại hạt giống khác nhưng mức độ nhỏ hơn. Theo ông thì khởi nguyên đầu tiên có tên là Nus, một dạng trí tuệ thuần khiết, đây chính là là linh hồn thế giới vì nó tạo ra thế giới từ sự hỗn độn của các sự vật, chính nó làm cho thế giới vận động và cũng chính nó nhận thức thế giới.
Đêmôcrit (khoảng 460-370 tr.C.N), nhà triết học đầu tiên xây dựng thuyết nguyên tử luận về thế giới, theo ông khởi nguyên của thế giới không phải vật cụ thể nào đó mà là các nguyên tử. Nguyên tử theo Đêmôcrit là hạt vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, chúng tồn tại vĩnh viễn và cốt lõi của chúng không chuyển động. Các nguyên tử có nhiều hình đa dạng do đó mà sự vật cũng đa dạng, chúng không có mùi vị, màu sắc và không thể biến thành nhau. Vận động là bản chất của nguyên tử. Đêmôcrit quả quyết không có gì mất đi hay sinh ra mà không có căn nguyên, theo ông, lực lượng vật chất chi phối các quy luật phát triển của sự vật. Ở khía cạnh nhân bản học, Đêmôcrit khẳng định linh hồn con người cũng được cấu tạo bởi các nguyên tử và sự khác nhau giữa người với vật là ở chỗ con người có nhiều nhiệt lượng hơn, những chất tạo nên nó sạch sẽ hơn. Về mặt nhận thức luận ông cho rằng trên thực tế chỉ tồn tại các sự vật khách quan do nguyên tử tạo ra, còn những cái khác như màu sắc mùi vị thì chỉ tồn tại trong cảm nhận của con người. Đêmôcrit thừa nhận tồn tại hai dạng nhận thức: nhận thức cảm tính và nhận thức trí tuệ, trong đó ông cho rằng nhận thức trí tuệ cho ta tri thức đích thực về sự vật.
Prôtago (490-420 tr.C.N), nhà triết học tiêu biểu của phái ngụy biện, theo ông đặc tính Cơ bản của sự vật không phải là tính khách quan mà là sự biến đổi không ngừng của nó. Mọi vật đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và trong quá trình vận động sẽ nẩy sinh hiện tượng sự vật đối lập với chính bản thân nó. Để có một lập trường nhất quán thì con người buộc phải lựa chọn các ý kiến. Câu nói nổi tiếng của ông: “con người là thước đo tất cả mọi vật”, là luận điểm đề cao con người trong thế giới hiện thực.
Xôcrát (469-399 tr.C.N), thầy của Platôn và Xôcrát, ông là người đầu tiên quan niệm triết học là sự nhận thức của con người về chính bản thân mình với một luận điểm bất hủ: “Con người, hãy nhận thức chính mình”. Theo ông nhận thức chính mình không chỉ có nghĩa ở khía cạnh nhân cách mà rộng ra, ở tất cả các khía cạnh thuộc về con người. Xôcrát còn quan niệm ngoài yếu tố chủ quan thì trong ý thức con người còn có nội dung khách quan và nó là cái Cơ bản nhất. Tiến thêm một bước dài nữa trong nhận thức, Xôcrát khẳng định rằng có tồn tại chân lý và chân lý là cái duy nhất, là Cơ sở khách quan của tri thức, nó tập hợp các tiếng nói chung lại tại một điểm thống nhất là chính bản thân nó. Khám phá chân lý đích thực về bản chất sự vật theo ông là hiểu nó ở mức độ khái niệm. Tất nhiên ông cũng cảnh báo rằng đó là điều không hề đơn giản, bằng câu nói cửa miệng: “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả”.
Platôn (khoảng 427-347 tr.C.N), học trò của Xôcrát, ông đặc biệt đề cao vai trò của tri thức khái niệm trong nhận thức: và cho rằng tri thức chân chính là trí thức lý tính mang tinh thần bao quát. Platôn quan niệm tất cả các sự vật tồn tại riêng lẻ nhất thời, do đó các tri thức mang tính chất chung và bao quát thuộc về lĩnh vực tinh thần, nó không thuộc về các sự vật đó. Từ quan niệm này ông cho rằng tri thức không phản ánh các sự vật mà là bản chất của chúng, cho nên ngoài thế giới các sự vật vật chất quanh ta, còn tồn tại một thế giới khác đó là thế giới của các ý niệm. Theo Platôn thì ý niệm là khái niệm, tri thức, đã được khách quan hóa, nó tồn tại bất biến. Những ý niệm chung, những tri thức mang tính khái quát cao cần phải tách biệt khỏi thế giới sự vật cảm tính đang phát sinh và biến đổi khá mạnh mẽ. Đối với Platôn thế giới ý niệm nghiêng về tính đạo đức nhiều hơn. Về nhận thức luận Platôn cho rằng tương ứng với mỗi dạng hay cấp độ tồn tại đều có một dạng tri thức tương ứng. Dạng tồn tại cao nhất là các ý niệm được nhận thức bởi trực giác trí tuệ, dạng tồn tại thứ hai là các đối tượng của tri thức toán học được hiểu như một thể trung gian đi liền với các ý niệm và các sự vật cảm tính, dạng tồn tại thứ ba là các sự vật cảm tính được coi là đối tượng nhận thức của các kiến giải và nó không phải là tri thức thực sự. Dạng tồn tại cuối cùng là những hình ảnh thể hiện các sự vật cảm tính, dạng này nhận thức bằng tưởng tượng nên không được coi là tri thức. Xuất phát từ luận điểm linh hồn con người chứa sẵn mọi tri thức, Platôn cho rằng nhận thức thực chất chỉ là sự hồi tưởng lại. Theo Platôn, thể xác con người hình thành từ bốn nguyên tố: lửa, nước, không khí, đất cho nên không bất diệt, còn linh hồn thì vĩnh cửu vì nó cấu thành từ trí tuệ, cảm xúc và cảm tính, trong đó có hiện tượng đặc biệt là cảm xúc và cảm tính sẽ chết theo thể xác. Ông khẳng định số lượng linh hồn không thay đổi, khi chết đi linh hồn trở về trú ngụ ở các vì sao sau khi đầu thai trở lại thể xác nó không nhớ chính xác quá khứ. Đây là một minh chứng cho luận điểm nhận thức chỉ là sự hồi tưởng mà Platôn đã đề ra.Về xã hội Platôn chia ra ba tầng lớp: tầng lớp cao nhất là các nhà triết học, các nhà thông thái, thứ hai là những chiến binh, thứ ba là nông dân, thợ thủ công. Ba tầng lớp này ứng với ba phẩm chất là lý trí, cảm xúc, cảm tính. Tiếp theo ông đưa ra quan điểm sở hữu tư nhân là nguồn gốc của cái cái ác do đó cần phải xóa bỏ hình thức này. Đối với nghệ thuật Platôn cho rằng cái đẹp tinh thần là vĩnh cửu và tuyệt đối.
Arixtôt (384-322 tr.C.N), học trò xuất sắc của Platôn, được đánh giá là nhà triết học lớn nhất của Hy Lạp cổ đại, ông khẳng định ý niệm là phương tiện để nhận thức bản chất của tồn tại. Theo Arixtốt, để khám phá bản chất của tồn tại và các vấn đề khác thì phải dựa vào siêu hình học, một khoa học mang tính thần thánh vì đối tượng nghiên cứu của nó là những cái thần thánh, trong đó có cả Thượng Đế. Đối với Arixtốt tồn tại xuất phát từ bốn yếu tố Cơ bản: hình dạng, vật chất, vận động và mục đích, trong đó hình dạng là Cơ bản nhất, nó thực sự là bản chất của tồn tại và bản chất của sự vật. Arixtốt thừa nhận tồn tại “hình dạng thuần túy” phi vật chất hoàn toàn thuộc về lĩnh vực tư tưởng đồng thời cũng khẳng định có cả “vật chất đầu tiên”, tức là vật chất không hình dạng. Việc tách rời vật chất với hình dạng khiến ông đi đến kết luận: “hiện thực có trước mọi khởi nguyên cả về phạm trù, cả về bản chất, còn về thời gian thì theo một nghĩa nhất định, là tồn tại trước, theo nghĩa khác thì lại không; do vậy việc xác định và nhận thức (những cái trong hiện thực) cần phải có trước nhận thức (những cái có trong khả năng)”. Arixtốt khẳng định “hình dạng thuần túy” chính là Thượng Đế, đồng thời ông cho rằng linh hồn con người khi mới sinh ra hoàn toàn chưa có tri thức mà tri thức chỉ có trong quá trình nhận thức dần dần. Theo ông nhận thức cao nhất chính là nhận thức khoa học, trong đó triết học là tối cao. Arixtốt được coi là người khởi nguồn cho lôgíc hình thức với việc khám phá ra các quy luât Cơ bản của tư duy lôgíc là quy luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn, quy luật loại trừ cái thứ ba, ông xây dựng lên tam đoạn luận nổi tiếng: Nếu A thuộc B, B thuộc C, thì A thuộc C. Arixtốt thừa nhận hai dạng bản chất, bản chất thứ nhất là sự vật khách quan tồn tại dưới dạng đơn nhất, dạng này có trước và đóng vai trò quan trọng, bản chất thứ hai là những khái niệm chung về sự vật như con người, động vật. Như vậy hiển nhiên Arixtốt đã thừa nhận các sự vật tồn tại khách quan và chúng có trước cả các khái niệm, tri thức về chúng. Theo ông thì chính các phạm trù mới là công cụ để nhận thức thế giới chứ không phải “những lực lượng tinh thần siêu nhiên”. Aritxtốt là người xây dựng thuyết Vũ trụ đia tâm, coi Trái đất là trung tâm của vũ trụ. Về nhân bản học, Arixtốt khẳng định con người cấu thành bởi linh hồn và thể xác, nhưng linh hồn đóng vai trò chủ đạo và là căn nguyên sự sống. Ngoài ra ông cho rằng con người là sinh vật xã hội. Arixtốt đề cao thơ ca, coi nó là nghệ thuật hàm chứa các thể loại nghệ thuật khác.
Triết học phái Khắc kỷ (Xtôic) là trường phái do Dênôn sáng lập ra và tồn tại đến thế kỷ II tr.C.N. Phái này cho rằng triết học không đơn thuần là một khoa học mà là một cách sống, là sự thông thái, chỉ có triết học mới dạy con người tự chủ, bình tĩnh. Theo họ triết học gồm ba lĩnh vực chính: lôgíc học, vật lý học, đạo đức học, trong đó lôgíc giúp con người tư duy đúng đắn chính xác, nó tạo ra sự hùng biện. Đối với các nhà Khắc kỷ thì đạo đức đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống và tri thức là nền tảng của đạo đức. Thái độ sống bình tĩnh, hơi nghiêng về bàng quang là mô hình của các nhà Khắc kỷ bởi họ quan niệm cuộc đời mỗi người đã được quy định sẵn rồi.
Téctuliêng (khoảng 160-230), nhà triết học khởi xướng việc tách triết học khỏi tôn giáo, theo ông trí tuệ không có khả năng sáng tạo mà tôn giáo mới bao hàm tất cả. Téctuliêng đối lập Chúa trời với chân lý của con người và đưa ra kết luận: “tôi tin bởi vì điều đó là vô lý”. Téctuliêng cho rằng lý trí chỉ nhận thức được giới tự nhiên còn niềm tin tôn giáo thì vượt ra ngoài giới hạn đó với mục đích nhận thức Thượng Đế. Theo ông Thượng Đế là vật thể nhưng Thượng Đế như Mặt trời, con người chỉ nhìn thấy các tia sáng mà không nhìn thấy bản chất của Mặt trời.
Ôguytxtanh (354-430), nhà triết học, nhà văn, giáo chủ được phong thánh, ông bác bỏ tính chất thần thánh trong các vật tự nhiên và kết luận: “Không có Thượng Đế trong các sự vật cảm biết?”. Ôguytxtanh cho rằng lý trí của con người là tự do nhưng chỉ trong giới hạn định sẵn của Chúa và quá trình nhận thức của con người chính là quá trình nhận thức Thượng Đế. Trong nhận thức Thượng Đế có ba cấp độ: thứ nhất là thông qua những cảm giác bên ngoài, hai là thông qua cảm giác bên trong, ba là nhận thức bởi lý trí. Theo ông thì trong tâm hồn con người đã có sự chỉ ra chân lý tối cao và từ chân lý tối cao này nẩy sinh ra các chân lý khác. Thượng Đế chính là chân lý tối cao.
Giangxcôt Êrigiennơ (810-877), nhà triết học theo chủ nghĩa duy thực, ông cho rằng thế giới, kể cả con người, không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc vào Thượng Đế. Con người chỉ như một thế giới thu nhỏ đặc biệt, trong đó tái hiện những giai đoạn phát triển căn bản của giới tự nhiên. Giăngxcốt Êrigiennơ còn đưa ra quan niệm lý trí và lòng tin hoàn toàn dung hợp nhau, ông quan niệm cái chung có trước cái riêng và cái chung chính là bản chất của sự vật.
Pie Abêla (1079-1142), nhà triết học theo phái duy danh, người Pháp, ông đề cao vai trò của lý trí, cho rằng chỉ có lý trí mới đạt tới nhận thức chân lý. Abêla khẳng định những khái niệm chung không phải những thực thể đặc biệt, tồn tại bên ngoài thế giới vật thể, nhưng chúng cũng không tồn tại trong bản thân vật thể. Theo ông thì ý nghĩa của khái niệm chung chỉ nằm trong ý nghĩa của từ.
Tômát Đacanh (1225-1274), nhà triết học, nhà thần học, sinh tại Italia, học thuyết của ông được nhà thờ đạo Thiên chúa ủng hộ và dùng làm hệ tư tưởng của mình. Tômát Đacanh cho rằng “chân lý của niềm tin tôn giáo” không phải lúc nào cũng đạt tới bằng sự chứng minh hợp lý và những chân lý thần học là một dạng siêu lý trí. Từ đó ông rút ra kết luận triết học thấp hơn thần học và sự anh minh của con người không bằng sự anh minh của Chúa. Theo Tômát Đacanh thế giới mà con người đang sống được Thượng Đế tạo ra từ hư vô cho nên nó không phải vĩnh cửu mà chỉ là sự chuẩn bị của “vương quốc giầu có ở trên trời”. Ông coi Thượng Đế là hình thức thuần túy tước bỏ vật chất, là nguyên nhân sự tác động cuối cùng của thế giới loài người đang tồn tại. Đối với Tômát Đacanh mọi nhận thức đều diễn ra trong chủ thể nhờ tiếp thu khách thể, nhưng nó chỉ tiếp thu những cái tồn tại trong khách thể giống với chủ thể, nghĩa là hình ảnh chứ không phải bản thân sự vật vật chất. Ông cắt nghĩa điều này như sau: khi gia nhập vào tinh thần của cái nhận thức, tức chủ thể, thì cái được nhận thức bị mất tính vật chất của mình và chỉ tồn tại với tính cách là hình dạng và hình dạng của sự vật là hình ảnh nhận thức của chính nó. Tômát Đacanh chia hình dạng thành hai loại cảm tính và lý tính.
Đơn Xcôt (1265-1308), nhà triết học người Anh, theo ông Thượng Đế là một tồn tại bất tận cho nên chứng minh về sự tồn tại của Thượng Đế cũng đồng nghĩa chứng minh cái tồn tại bất tận là có. Tất nhiên con người có thể chứng minh được sự tồn tại của Thượng Đế nhưng không thể nhận thức được Thượng Đế vì Ngài có quyền tự do lựa chọn tuyệt đối. Đơn Xcốt cho rằng ngoại trừ Thượng Đế là hình thức thuần túy phi vật chất ra, còn lại mọi thực thể trong đó có tinh thần và thiên thần, đều dừng lại ở dạng vật chất hoặc bao gồm cả hình thức và vật chất. Ông quan niệm cái chung vừa tồn tại trong các sự vật, vừa tồn tại sau các sự vật, trường hợp thứ nhất với tư cách là bản chất của chính nó, trường hợp sau với tư cách đã bị con người trừu tượng hóa thành khái niệm. Đơn Xcốt, khẳng định tri thức hình thành từ tinh thần và đối tượng nhận thức, hơn nữa theo ông ý trí cao hơn lý chí và ở trường hợp của Thượng Đế ý chí trở thành tự do.
Rôgiê BêCơn (khoảng 1214-1294), nhà triết học của phái khoa học thực nghiệm, người Anh, theo ông siêu hình học là khoa học lý luận chung giải thích mối quan hệ giữa khoa học bộ phận và đem lại cho các khoa học bộ phận đó những quan điểm Cơ bản. Bản thân siêu hình học cũng được xây dựng trên thành quả của các khoa học đó. BêCơn phê phán các phương pháp kinh viện tách xa khỏi đời sống, ông cho rằng sự sùng bái, thói quen, tính vô căn cứ là những trở ngại đối với chân lý. BêCơn đánh giá cao vai trò của kinh nghiệm trong việc kiểm tra chân lý.
Guyôm Ốccam (khoảng 1300-1350), nhà triết học theo chủ nghĩa duy danh, nhà thần học, chính trị gia, người Anh, ông chống lại chức Giáo hoàng và đề cao quyền lực của quốc vương thế tục. Ốccam cho rằng chỉ những sự vật độc lập là tồn tại thực sự, còn cái chung chỉ tìm thấy trong tinh thần, trong từ ngữ vì cái chung chỉ diễn đạt và mô tả tính giống nhau trong các đối tượng riêng lẻ mà thôi. Trong nhận thức luận ông chia ra làm hai loại: nhận thức trực giác và nhận thức trừu tượng, tất nhiên loại thứ nhất được đề cao hơn.
Nicôlai Kuzan (1401-1464), nhà triết học mở đầu cho thời kỳ triết học phục hưng, ông đưa ra quan điểm tự nhiên thần luận cho rằng sự tồn tại của Thượng Đế chính là sự tồn tại của thế giới trong Thượng Đế. Quá trình hoàn thiện thế giới cũng chính là quá trình Thượng Đế dần hiện ra thành giới tự nhiên. Vì sự phát triển của Thượng Đế dài vô biên cho nên toàn bộ các phạm trù của con người cũng không biểu hiện hết bản chất của Thượng Đế. Theo ông: “Thượng Đế là tất cả mọi cái nhưng đồng thời cũng không là gì cả trong mọi cái đó.” Hơn nữa Kuzan còn cho rằng con người là sản phẩm của Thượng Đế cho nên con người cũng chính là Thượng Đế - con người và nó tác động vào hết thảy mọi vật tự nhiên. Ông cũng khẳng định sự nhận thức của con người là tương đối và coi chân lý là tuyệt đối, trọn vẹn.
Nicôlai Côpécníc (1473-1543), nhà triết học, nhà thiên văn học, ông đề xướng thuyết vũ trụ Nhật tâm, coi Mặt trời là trung tâm của vũ trụ và Trái đất xoay quanh Mặt trời. Theo nhận định của Ph.Ăngghen thì Côpécníc là người giải phóng khoa học tự nhiên khỏi sự dằng buộc của thần học.
Brunô (1548-1600), nhà triết học, nhà khoa học tự nhiên người Italia, theo ông Uno (cái duy nhất) chính là Thượng Đế tồn tại dưới dạng tự nhiên được hiểu như một thế giới độc lập, không phải do cái gì đó sáng tạo ra. Mọi vật biến đổi nhưng Uno (cái duy nhất) thì không biến đổi, và nó là cái thống nhất của tất cả các mặt đối lập, nó có mặt khắp nơi nhưng cũng không ở đâu. Brunô đưa ra chân lý “mọi vật nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong mọi vật. Chúng ta nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong chúng ta”. Ông còn xây dựng thuyết đơn tử, theo đó mọi vật cấu thành từ các đơn tử, phần tử nhỏ nhất của vật chất, và đơn tử có khả năng tinh thần. Đặc tính của vật chất là vận động cho nên trong cốt lõi của các đơn tử đều có vận động, đặc tính này làm cho nó có sinh khí. Brunô khẳng định toàn bộ vật chất chứa đựng khả năng sự sống và ý thức, hơn thế nó còn mang những đặc tính mà con người có.
Galilêô Galilê (1564-1642), nhà triết học, nhà thiên văn, nhà toán học, người Italia, được đánh giá là người mở đầu cho sự phát triển khoa học thực nghiệm và toán học hiện đại. Ông cho rằng tôn giáo và giới tự nhiên là hai cuốn sách riêng biệt, là hai đời sống tinh thần cần thiết của con người. Kinh thánh dạy con người nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống thường ngày, còn khoa học thì nhận thức bản chất và khám phá những quy luật tự nhiên. Có điều để hiểu “cuốn sách tự nhiên” thì con người ngoài việc dựa trên sự diễn giải câu chữ còn phải dựa vào các quan sát và. thực nghiệm. Galilê còn cho rằng quá trình nhận thức thế giới là vô hạn và ngôn ngữ chính của “cuốn sách tự nhiên” là hình học.
Tômát Morơ (1478-1535), nhà triết học người Anh, ông là một trong số những người sáng lập ra Chủ nghĩa Cộng sản không tưởng. Theo Morơ, mọi bất công trong xã hội là do sự cai trị của chế độ tư hữu, chính chế độ này biến con người thành ích kỷ. Ông cho rằng một xã hội lý tưởng phải dựa trên sở hữu cộng đồng, của cải làm ra phải chia đều và không lưu hành tiền tệ. Ở xã hội đó mọi lao động đều đáng coi trọng và nó không phải chỉ là nhu cầu để tồn tại mà là nhu cầu đạo đức.
Phranxis BêCơn (1561-1626), nhà triết học người Anh, thủy tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm, ông đưa triết học Tây Âu bước sang một giai đoạn mới. BêCơn quan niệm triết học phải là nền tảng của công cuộc cải tạo xã hội, theo ông triết học là tổng thể các tri thức của con người về Thượng Đế, về tự nhiên và chính bản thân con người. Với luận đề đó BêCơn chia triết học ra làm ba học thuyết: về Thượng Đế, về con người, về tự nhiên. Theo ông triết học là tư duy lý tính, và đạt tới sự minh triết cao nhất. BêCơn đánh giá cao vai trò của tri thức lý luận trong cải tạo xã hội, ông cho rằng con người cần phải nắm vững các quy luật của tự nhiên thì mới chinh phục được nó. Về thế giới, theo BêCơn, để giải thích được sự đa dạng của nó thì chỉ cần mỗi vật chất là đủ, cải biến quan niệm của Arixtốt về bốn nguyên nhân Cơ bản của tồn tại, ông cho rằng chỉ tồn tại có ba nguyên nhân: Hình dạng, Vật chất, Vận động và đây chính là bản tính của vật chất. Đặc biệt ông đánh giá cao vị trí của Hình dạng, cho nó là bản chất của sự vật và biểu hiện bên ngoài của nó là Tự nhiên. Theo ông thì Tự nhiên là cái biểu hiện của hình dạng mà con người nhận biết được bằng các giác quan. BêCơn quan niệm nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận động của chính các sự vật ấy, ông cũng khẳng định vận động là đặc tính không thay của vật chất và bất động cũng là một dạng vận động. BêCơn là người đầu tiên nhìn ra tính bảo toàn vật chất của thế giới. Theo BêCơn, trong quá trình nhận thức, con người bị các Ngẫu tượng, tức là các hình ảnh bị xuyên tạc, làm cho rơi vào những cái nhìn sai lầm. Các Ngẫu tượng này có nguồn gốc hoàn toàn khách quan vì chúng có một phần trong bản chất trí tuệ của con người cho nên ông cho rằng quá trình con người đấu tranh khắc phục những hạn chế khách quan cũng chính là quá trình con người đấu tranh cho sự hoàn thiện bản thân mình. Ngoài ra BêCơn còn khởi xướng ra tư tưởng lôgíc mới qua sự phân tích tính hạn hẹp trong học thuyết Tam đoạn luận của Arixtốt, đồng thời ông cũng là người khám phá ra phương pháp quy nạp loại trừ. Theo BêCơn con người là sản phẩm của tạo hóa, vì thế khoa học về con người cũng chính là khoa học về tự nhiên. Ông chia linh hồn con người làm hai phần: linh hồn cảm tính và linh hồn lý tính, phần thứ nhất có cả ở trong các loại thực vật và động vật, phần thứ hai có nguồn gốc từ Thượng Đế. Vì lý do đó, con người vừa gần gũi với động vật lại vừa mang tính thần thánh.
Tômát Hôpxơ (1588-1679), nhà triết học duy vật người Anh, ông đề cao tri thức, cho nó là biểu hiện của sức mạnh. Hôpxơ chấp nhận quan điểm tồn tại khách quan của thế giới có trước con người, nó không phải do Chúa trời tạo ra và các sự vật tồn tại riêng lẻ. Theo ông chân lý chỉ là sự suy diễn của con người đối với sự vật chứ không phải tính chất của sự vật. Hôpxơ cho rằng con người là một thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội, còn bản tính thì khi sinh ra ai cũng đều như nhau. Vấn đề ở chỗ các khát vọng biến con người thành ích kỷ và biến trạng thái xã hội thành một cuộc chiến tranh “tất cả chống lại tất cả”. Sự bảo đảm cho cuộc sống khiến con người phải đi đến khế ước xã hội, đây là nền tảng để hình thành nhà nước. Như vậy theo Hốpxơ thì dân tộc nào cũng phải trải qua hai giai đoạn phát triển: xã hội tự nhiên và xã hội công dân.
Giôn LôcCơ (1632-1704), nhà triết học duy vật người Anh, ông là người phê phán thuyết tư tưởng bẩm sinh của Đềcáctơ và khẳng định toàn bộ các tri thức cũng như chân lý đều do quá trình tự nhận thức mà có. LốcCơ coi kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức trong dó lý tính cũng là một dạng kinh nghiệm. Tất cả các tri thức mà con người có được qua nhận thức được ông gọi là ý niệm, Quá trình nhận thức được LốcCơ chia ra làm hai giai đoạn, giai đoạn đầu là ý niệm đơn giản, chủ yếu là sự tiếp nhận sự tác động của các sự vật, giai đoạn sau là ý niệm phức tạp, là quá trình phân tích mổ xẻ các sự vật bằng lý tính. Tiến thêm một bước nữa, ông chia tính chất của sự vật thành “chất có trước” và “chất có sau”, “chất có trước” là đặc tính khách quan vốn có của sự vật, nó không mất đi còn, “chất có sau” là những gì không có đặc tính như của “chất có trước”, nó hay bị biến đổi.
Rơnê Đềcáctơ (1596-1650), nhà triết học người Pháp, đại biểu xuất sắc của hệ thống siêu hình học thế kỷ XVII. Đềcáctơ quan niệm triết học theo nghĩa rộng là tổng thể các tri thức của con người, theo nghĩa hẹp là siêu hình học, trong đó siêu hình học được coi như nền tảng của hệ thống thế giới quan. Theo ông thì nhiệm vụ của triết học là xây dựng những nguyên lý, phương pháp luận làm Cơ bản cho khoa học khám phá ra chân lý, sau đó giúp con người thống trị tự nhiên trên Cơ sở nhận thức luận của nó. Vì thế mà Đêcáctơ cho rằng “cần phải thay thế thứ triết học tư biện bằng một triết học thực tiễn” để con người nhận biết được sự vật xung quanh một cách rõ ràng, chắc chắn, sử dụng nó và trở thành chủ nhân thực sự của tự nhiên. Ông khẳng định phải biết hoài nghi mọi cái mà chúng ta vẫn coi là đúng, nhưng hoài nghi để tìm ra chân lý và phải coi nó là tiền đề chứ không phải là kết luận cuối cùng. Đêcáctơ nhấn mạnh rằng con người đang hoài nghi tất cả nhưng nó không thể hoài nghi được sự tồn tại của chính mình vì nó đang hoài nghi. Nếu con người không tồn tại thì làm sao nó có thể đang hoài nghi được, mặt khác chính vì con người đang hoài nghi nên nó mới biết mình đang tồn tại, con người đang tồn tại nhờ nó hoài nghi, trong khi đó hoài nghi là suy nghĩ, vì thế: “Tôi tư duy, do vậy tôi tồn tại”. Đây chính là nền tảng thế giới quan của Đềcáctơ. Theo Đềcáctơ thì Thượng Đế tồn tại thực, nhờ có Ngài mà thế giới mới hiện tồn và phát triển. Từ quan niệm đó, ông khẳng định sự tồn tại của các sự vật, suy ra từ ý tưởng của con người về chúng. Theo Đềcáctơ thì tư tưởng con người xuất phát từ ba nguồn gốc chính: thế giới bên ngoài, hoạt động trí tuệ, bẩm sinh. Ông quả quyết sự khác nhau giữa các sự vật là ở chỗ một số có trí tuệ, nói cách khác là những thực thể tư duy, còn một số khác thì chỉ thuần túy là vật thể, trong đó con người là vật đặc biệt thuộc về cả hai loại đó với hai phần linh hồn và thể xác. Về phương pháp luận, Đềcáctơ hướng tới hoàn thiện và phát triển khả năng trí tuệ của con người, ông đặc biệt đề cao Trực giác, coi nó như điểm khởi đầu của sự tự nhận thức chân lý. Đềcáctơ khẳng định vạn vật trong thế giới, kể cả tinh thần, đều cấu tạo từ vật chất, với ông thì các vận động đều được quy vào vận động Cơ học, và giữa vận động với đứng yên hầu như không có mối liên hệ nào. Đềcáctơ thừa nhận có một “cú huých đầu tiên” của Thượng Đế, mặt khác trên lĩnh vực sinh lý học ông lại cho rằng sự phát triển trong thế giới vô Cơ lẫn hữu Cơ đều không cần tới sự can thiệp của Thượng Đế. Đềcáctơ tin tưởng rằng Cơ thể con người là khí quan vật chất của linh hồn và linh hồn là chức năng hoạt động của Cơ thể.
Bêkênít Xpinôza (1632-1677), nhà triết học người Hà Lan, gốc Do Thái. Ông xuất phát từ thế giới để giải thích con người. Xpinôza coi Thượng Đế chính là thực thể giới tự nhiên chứ không phải lực lượng siêu nhiên thần bí nào khác: Theo ông giới tự nhiên như một thực thể có những đặc tính sau: tồn tại trọn vẹn và đầy đủ, tồn tại độc lập, như một thể duy nhất, là nguồn gốc chung đồng thời cũng là bản chất chung của mọi vật, kể cả vật chất lẫn tinh thần. Thực thể là siêu không gian và siêu thời gian, tức là vô tận về không gian và vĩnh cửu về thời gian. Xpinôza còn quan niệm thực thể có vô vàn thuộc tính nhưng con người chỉ nhận biết được hai thuộc tính là tư duy và quảng tính. Theo ông vật chất không phải là nguồn gốc duy nhất của sự vật mà chỉ là một trong nhiều thuộc tính của giới tự nhiên. Tư duy chính là thuộc tính mà thông qua đó giới tự nhiên nhận thức được chính bản thân mình và tư duy không chỉ con người mới có mà loài vật cũng có, tuy nhiên tư duy của con người cao hơn loài vật. Tư duy có thể bị tiêu huỷ khi con người chết đi. Với Xpinôza thì mỗi sự vật đều thể hiện toàn bộ các thuộc tính của thực thể và mỗi thuộc tính của thực thể đều hiện tồn ở mọi sự vật, nhưng có điều thuộc tính của thực thể thì còn vĩnh viễn trong khi mọi vật đều có thể thay đổi. Đóng vai trò cầu nối giữa thực thể và các sự vật chính là các dạng thức vô hạn, ví dụ như tổng thể các tư tưởng, tổng thể các ý niệm... Trong quan niệm của Xpinôza thì con người chính là dạng thức của thực thể, là sản phẩm của tự nhiên vì thế hoạt động của nó phải tuân theo tự nhiên, hơn nữa mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác là mối quan hệ hữu Cơ cho nên chúng không tách khỏi nhau và con người cũng nằm trong quá trình phát triển hay diệt vong vì nó chỉ là một dạng thức của thực thể. Về nhận thức luận Xpinôza cho rằng giới tự nhiên lúc nào cũng như nhau cho nên cái nhận biết chúng lúc nào cũng như nhau cả. Ông đề cao trực giác lý tính, cho nó có khả năng vừa khám phá chân lý vừa là chuẩn mực chân lý.
Gôtphrit Vinhem Lépnít (1646-1716), nhà triết học, nhà toán học người Đức, ông là người đầu tiên dùng thuật ngữ “chủ nghĩa duy vật” và “chủ nghĩa duy tâm” để phân biệt hai khuynh hướng triết học Cơ bản. Phương pháp luận theo Lépnít, là một tổng thể hữu Cơ các nguyên lý được hiểu như những chân lý sơ đẳng đảm bảo từ đó suy diễn ra mọi kết luận trong tất cả các trường hợp, sau khi con người đã phần nào thấu hiểu và vận dụng chúng. Ông đề ra 11 nguyên lý của phương pháp luận, ví dụ: Nguyên lý khác nhau phổ biến, Nguyên lý đồng nhất của các sự vật không khác nhau, Nguyên lý liên tục, Nguyên lý gián đoạn, Nguyên lý đầy đủ, Nguyên lý hoàn thiện... Lépnít gắn khái niệm thực thể với tính đơn nhất của sự vật, theo ông mỗi thực thể đều chứa đựng cả vật chất lẫn tinh thần và mỗi thực thể gọi là đơn tử. Mỗi đơn tử hoàn toàn kép kín, không phụ thuộc vào bên ngoài, hơn nữa chúng còn có khả năng nhận thức chính bản thân mình. Lépnít chia đơn tử làm ba nhóm: Đơn tử được tạo ra chủ yếu bởi các vật vô Cơ, đơn tử có khả năng cảm giác và trực quan, đơn tử phát triển hoàn thiện nhất, loại này tạo nên ý thức con người. Để cho các đơn tử phát triển một cách có trật tự, Lépnít đề ra nguyên tắc Hài hòa tiền định và Thượng Đế là Cơ sở của nguyên tắc này. Thế giới, theo ông, là một chỉnh thể thống nhất của các sự vật vô cùng đa dạng và chỉ có Thượng Đế là hoàn thiện tuyệt đối còn ngoài ra mọi thứ đều là tương đối. Về chân lý, Lépnít cũng phân biệt hai dạng: chân lý thực sự thì do nhận thức cảm tính đem lại, chân lý lý tính thì do nhận thức lý tính mang lại.
Gióocgiơ BécCơly (1685-1753), nhà triết học người Anh, đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Theo BécCơly, sở dĩ con người nhận thức được sự vật là vì chúng tương đồng với con người, cho nên chúng thuộc về con người. Ông khẳng định nguồn gốc hoàn toàn chủ quan của mọi sự vật trong thế giới con người. BécCơly đưa ra luận điểm cho rằng đối với các sự vật thì “tồn tại có nghĩa là được cảm nhận.” Như vậy ông đồng nhất các ý niệm của con người với cảm giác. Theo ông thể xác con người tồn tại nhờ linh hồn cảm nhận nó cho nên nó phải tuân theo sự chỉ dẫn của linh hồn.
Đavít Hium (1711-1776), nhà triết học người Anh, ông tuyệt đối hóa vai trò của cảm giác, coi nó là điểm xuất phát và dạng Cơ bản của nhận thức. Hium cho rằng bản thân cảm giác là nguồn gốc mọi nhận thức cho nên nó không cần đến sự tác động của thế giới bên ngoài. Và ông kết luận quá trình nhận thức chỉ là nhận thức những cảm xúc ấn tượng chứ không phải nhận thức thế giới. Và các ấn tượng được ông coi là nguồn gốc tuyệt đối của nhận thức. Theo Hium thì bản thân vật chất thực thể chính là tổng thể các ý niệm đơn giản liên hợp với nhau bởi sự tưởng tượng và được gọi bằng tên, thông qua đó người ta có thể gọi tên tổng thể đó trong trí nhớ của mình hay của người khác. Hium còn cho rằng con người là sự liên hệ hay một chùm những giá trị khác nhau, cái này nối tiếp cái kia và tất cả nằm trong quá trình biến đổi một cách nhanh chóng, vì lý do đó mà cái Tôi không tồn tại như một thực thể bất tử. Ngoài ra ông còn nhấn mạnh phải luôn “giữ gìn tính hoài nghi của mình trong mọi trường hợp của cuộc sống”.
Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689-1775), nhà triết học người Pháp thuộc trường phái Khai sáng. Lan toả ở nhiều nước châu âu thời bấy giờ, trước hết là Pháp, Anh, Đức... Nội dung Cơ bản và cũng là mục tiêu của trường phái “Khai sáng” là rũ bỏ mạnh mẽ mọi áp đặt của tư duy nhà thờ trung cổ, giải phóng tự do tư tưởng của con người. Đây cũng là một thời kỳ rực sáng của văn minh nhân loại. Theo Môngtexkiơ, có hai hai dạng quy luật chi phối sự phát triển của nhân loại, đó là quy luật tự nhiên và quy luật xã hội cho nên ông vừa đề cao vai trò của sản xuất vật chất, lại vừa cho rằng điều kiện địa lý đóng vai trò quyết định trong tiến trình lịch sử. Thế giới quan của Môngtexkiơ chứa đựng nhiều tư tưởng nhân đạo, ông kêu gọi một cuộc sống hòa bình giữa các dân tộc, các quốc gia.
Phrăngxoa Mari Vônte (1694-1778), nhà triết học phái Khai sáng, người Pháp, thế giới quan của ông chia làm hai thời kỳ. Thời kỳ đầu ông bảo vệ quan niệm duy vật, duy cảm, khẳng định quá trình nhận thức bắt nguồn từ cảm tính do đó không tồn tại tư tưởng bẩm sinh. Thời kỳ thứ hai Vônte khẳng định vận động là đặc tính của vật chất và nó cũng tồn tại vĩnh viễn cùng vật chất. Ông cho rằng giới tự nhiên là do Thượng Đế sáng tạo ra, thiếu Thượng Đế thì con người sẽ rơi vào bế tắc do đó nếu không có Thượng Đế thì con người phải nghĩ ra Thượng Đế.
Giăng Giắc Rutxô (1712-1778), nhà triết học phái Khai sáng, người Pháp. Ông là một triết gia, nhà xã hội học và là nhà cải cách vĩ đại, ông coi lịch sử loài người là kết quả lao động của chính con người và bản chất của con người là tự do nhưng luôn bị kìm hãm vì nhiều lý do xã hội. Rutxô chia tiến trình lịch sử thành các giai đoạn: thứ nhất là “trạng thái tự nhiên”, giai đoạn này con người chưa phân chia đẳng cấp và nó là giai đoạn hạnh phúc nhất của loài người. Giai đoạn thứ hai là “trạng thái công dân”, giai đoạn này con người bắt đầu bị phân hóa và xuất hiện các cuộc chiến tranh. Giai đoạn thứ ba là thông qua cách mạng, xã hội trở lại “trạng thái tự nhiên” nhưng trên Cơ sở cao hơn, ở đó chính quyền lập pháp thuộc về nhân dân và phục vụ nhân dân.
Đêni Điđơrô (1713-1784), nhà triết học duy vật điển hình của trào lưu Khai sáng, người Pháp, ông quan niệm “vật chất là nguyên nhân duy nhất của mọi cảm giác của chúng ta”, và bản tính cố hữu của nó là vận động. Theo Điđơrô thì trong quá trình vận động và phát triển giới tự nhiên sẽ chọn lọc những gì giúp nó hoàn thiện do đó cấu trúc và trạng thái của các sinh vật chính là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên. Ông còn cho rằng linh hồn con người là tổng thể các hiện tượng tâm lý, bản thân nó cũng là đặc tính của vật chất do đó theo ông không có Cơ thể thì linh hồn không là gì cả Điđrô khẳng định nhân cách con người là sản phẩm của hoàn cảnh và môi trường xung quanh nó. Bằng sự đề cao tính duy nhất của vật chất Điđơrô đã phủ định sự tồn tại của Thượng Đế.
Imanuen Cantơ (1724-1804), nhà triết học được đánh giá là một trong những người vĩ đại bậc nhất của tư tưởng phương Tây. Thế giới quan của ông chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ tiền phê phán, theo Cantơ, thế giới cấu tạo từ vật chất luôn vận động và biến đổi không ngừng và thông qua lực hút, lực đẩy các vật tương tác với nhau. Về sự hình thành của vũ trụ ông cho rằng khởi đầu thế giới là những vật chất hỗn độn, nhờ lực vạn vật hất dẫn nên chúng tụ lại thành những đám mây. Do các luồng gió xoáy hình thành từ lực hút và lực đẩy trong các đám mây, vật chất đông cứng lại theo hình cầu. Bởi lực hút không đủ mạnh để hút tất cả vật chất vào một điểm cho nên mới hình thành nhiều hành tinh và nhiệt độ của những hành tinh này phụ thuộc vào lực ma sát khi chúng được tạo thành. Cũng ở thời kỳ tiền phê phán này, Cantơ còn đưa ra tư tưởng bất khả tri, cho rằng con người không có khả năng nhận biết bản chất của sự sống. Thời kỳ phê phán, Cantơ đề xướng việc nghiên cứu lại toàn bộ các vấn đề triết học đặt ra trước đây, ông xác định lại một cách phê phán các quan niệm về lý tính, khả năng suy diễn và về khả năng nhận thức của con người. Theo Cantơ, triết học là giải đáp những vấn đề mọi người quan tâm trong cuộc đời họ, nó không dừng lại ở vấn đề nhận thức đơn thuần. Cantơ cho rằng sự thông thái thể hiện ở hành động hơn là ở tri thức, triết học chứa đựng sự thông thái một cách hoàn hảo và nó chủ yếu là xác định bản chất của con người. Cantơ đưa ra ba vấn đề mà triết học phải lý giải: Tôi có thể biết được cái gì? Tôi cần phải làm gì? Tôi có thể hy vọng cái gì? Ba vấn đề này ứng với ba khía cạnh lớn trong mối quan hệ giữa con người với thế giới: nhận thức, thực tiễn, giá trị. Trong hệ thống triết học của mình, Cantơ cho rằng mọi vật trong thế giới bên ngoài chỉ tồn tại dưới dạng đơn nhất và cá biệt. Với việc đề xuất cách tiếp cận theo xu hướng “các vật phải phù hợp với nhận thức của chúng ta” Cantơ đã buộc phải thừa nhận Vật tự nó không nhận thức được và tri thức con người không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, tức là Vật tự nó. Theo Cantơ thì Vật tự nó là sự biểu hiện những gì thuộc về hiện tượng mà con người chưa nhận thức được, thứ nữa nó là bản chất của mọi vật tồn tại bên ngoài con người, cuối cùng nó là những chuẩn mực hoàn hảo tuyệt đối mà con người không thể đạt tới được, ví dụ như sự tự do, sự bất tử và Chúa... Ông cho rằng nhiệm vụ Cơ bản của triết học lý luận là làm rõ các tri thức lý luận của khoa học có được như thế nào. Theo Cantơ con người không thể biết bản chất đích thực của sự vật cho nên với cả những gì con người đã biết hoặc sẽ biết ông đều quy về lĩnh vực kinh nghiệm cảm tính, tức là Hiện tượng luận. Như vậy nhận thức luận là hoạt động nhận thức của con người như một chủ thể trong khuôn khổ hiện tượng luận. Thời kỳ Tiền phê phán, Cantơ coi không gian và thời gian thuộc về lĩnh vực Vật tự nó, về sau ông coi không gian là hình thức bên ngoài còn thời gian là hình thức bên trong của kinh nghiệm cảm tính, như vậy chúng đều thuộc lĩnh vực hiện tượng luận. Về lôgíc, Cantơ phân biệt hai loại: lôgíc đại cương, tức lôgíc hình thức và lôgíc tiên nghiệm trong đó lôgíc tiên nghiệm được coi trọng đặc biệt. Còn tư duy sử dụng các khái niệm được Cantơ gọi là Giác tính. Ông coi các phạm trù không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà là kết quả sáng tạo của riêng Giác tính trên quan điểm Cơ bản là khẳng định con người chỉ nhận thức được những gì do chính mình tạo ra. Ông đưa ra 12 phạm trù được chia thành 4 nhóm, xếp đầu mỗi nhóm là: phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù hình thái. Các phạm trù trên vượt khỏi phạm vi ý thức cá nhân vì đặc tính phổ quát và tất yếu của chúng. Nhưng các cặp phạm trù, theo Cantơ, chỉ đơn thuần là hình thức của tư tưởng, chưa hề bao chứa một nội dung nào. Về việc quan niệm lý tính có khát vọng xâm nhập vào Vật tự nó để đạt tới tri thức tuyệt đối, Cantơ cho rằng đã làm phát sinh những mâu thuẫn, lý do khả năng con người không cho phép làm được việc đó. Các mâu thuẫn này hầu như không thể khắc phục được vì nó nằm ngay trong bản thận lý tính của con người. Ông khẳng định tồn tại 4 mâu thuẫn Cơ bản của lý tính và mỗi mâu thuẫn được tạo từ hai luận đề đối lập nhau. Các mâu thuẫn này là những dạng đối lập biện chứng, vì vậy tùy từng trường hợp chúng có thể cùng đúng hoặc cùng sai.Theo Cantơ các nguyên lý đạo đức độc lập với mọi lĩnh vực hoạt động khác của con người, lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý do đó nó là chuẩn mực của đạo đức. Phạm trù trung tâm của đạo đức học chính là tự do và Cantơ quan niệm tự do theo các khía cạnh: nó là khả năng tiên nghiệm đặc biệt cho phép giác tính hoạt động độc lập đối với quy luật tự nhiên trong lĩnh vực hiện tượng luận. Nó tồn tại tương đối trong lĩnh vực hiện tượng luận, nó là cái thuộc lĩnh vực Vật tự nó. Như vậy con người, theo Cantơ, tồn tại đồng thời ở cả hai thế giới: thế giới hiện tượng luận và thế giới Vật tự nó. Kết luận cuối cùng mà triết học Cantơ đạt đến là: con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình, bản thân giới tự nhiên cũng là kết quả hoạt động của con ngườì.
Giôhan Gôtlíp Phíchtơ (1762-1814), nhà triết học người Đức, ông kế tiếp sự nghiệp của Cantơ, coi con người là trung tâm của các vấn đề triết học. Theo Phíchtơ luận đề xuất phát điểm của triết học về con người là: Tôi là Tôi, điều này nói lên rằng ngay từ khởi đầu bằng hoạt động của mình, con người sáng tạo ra chính mình. Tôi là Tôi nẩy sinh ra luận đề thứ hai: Tôi không phải là cái không Tôi, luận đề này đối lập với luận đề sinh ra nó. Và phát sinh luận đề thứ ba, luận đề này chỉ sự tương tác giữa Tôi với không Tôi và ngược lại. Về thực chất thì trong ba luận đề này có hai quan niệm về cái Tôi: cái Tôi tự nó sản sinh ra là cái Tôi có trước cả giới tự nhiên và loài người, nó là cái Tôi tuyệt đối. Cái Tôi do cái Tôi tuyệt đối sinh ra là cái Tôi tương đối, hữu hạn. Cái Tôi tuỵệt đối là sự thể hiện con người lý tưởng còn cái Tôi tương đối chỉ con người đang sống cụ thể có sinh có diệt hàng ngày. Chính hoạt động của cái Tôi tuyệt đối là nguồn gốc duy nhất của mọi cái trên thế giới. Vì thế quá trình cái Tôi kinh nghiệm cải tạo thế giới cũng là quá trình nó tiến dần tới cái Tôi tuyệt đối. Khi mà con người nhận thức và cải tạo được thế giới thì nó trở thành cái Tôi tuyệt đối và hoàn toàn được tự do. Về giai đoạn cuối đời Phíchtơ chuyển dần sang lập trường duy tâm vì ông không giải quyết được các mâu thuẫn trong quan niệm của mình.
Phriđrích Vinhem Giôdép Senlinh (1715- 1854), được coi là bậc tiền bối của triết học Hêghen, ông cải biến cái Tôi tuyệt đối của Phíchtơ thành cái Tuyệt đối và coi nó là đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên cũng như loài người. Cái tuyệt đối, theo Senlinh, là sự đồng nhất giữa tinh thần và vật chất, giữa chủ thể và khách thể. Ông cho rằng giới tự nhiên là giai đoạn phát triển thấp, giai đoạn vô thức của cái tuyệt đối. Giới tự nhiên phát triển qua ba giai đoạn: giai đoạn hình thành thế giới từ những mặt đối lập chủ yếu thông qua lực hút và lực đẩy, giai đoạn thiết lập Cơ chế chung của vật chất nhờ những mối liên hệ động lực học, giai đoạn hình thành thế giới hữu Cơ mà đỉnh cao là xuất hiện con người. Về lịch sử Senlinh cho rằng nó chính là quá trình hoạt động của con người sáng tạo ra “giới tự nhiên thứ hai” của mình. Theo ông hình thức thể hiện cao nhất của cái tuyệt đối chính là hoạt động sáng tạo nghệ thuật của con người. Giai đoạn sau những năm 1805, thế giới quan của Senlinh ngày càng ngả sang xu hướng tôn giáo với việc coi tự nhiên là sản phẩm sáng tạo của Chúa, cái tuyệt đối cũng chính là Chúa và con người chỉ có thể nhận biết được một cách mơ hồ bằng trực giác.
Gióocgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770- 1831), nhà triết học biện chứng lỗi lạc người Đức, hệ thống triết học của ông chia làm ba phần chính: triết học tinh thần, lôgíc học và triết học tự nhiên. Theo Hêghen, con người là sản phẩm cũng là giai đoạn cao nhất của tinh thần tuyệt đối, và tinh thần tuyệt đối ở đây theo như ông quan niệm là sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, tinh thần và vật chất, chủ thể và khách thể. Hêghen khẳng định: “chân lý không chỉ là thực thể mà còn là chủ thể”, ông coi tư duy khái niệm là hình thức biểu hiện cao nhất của tinh thần tuyệt đối, và nhận thức khái niệm là nhận thức cao nhất của con người. Hêghen cho rằng sự phát triển là quá trình phủ định biện chứng, trong đó cái mới vừa thay thế vừa kế thừa cái cũ, ông đưa ra tam đoạn thức: Phản đề, chính đề, hợp đề, biểu hiện cho ý niệm tuyệt đối sơ khai, tự nhiên và xã hội. Đây là ba giai đoạn Cơ bản trong quá trình phát triển của tinh thần tuyệt đối, nó cũng là quá trình nẩy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong chính bản thân tinh thần tuyệt đối. Theo Hêghen tư duỵ và ý thức con người chỉ phát triển ở trong mối quan hệ và quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên, và ý thức con người là sản phẩm của tiến trình lịch sử nhân loại được coi là hiện thân của tinh thần tuyệt đối. Ông cho rằng có ba hình thức biểu hiện Cơ bản tinh thần tuyệt đối: nghệ thuật, tôn giáo, triết học, trong đó triết học là hình thức thể hiện cao nhất và trọn vẹn nhất. Như vậy triết học là sự khái quát lý luận lịch sử nhân loại. Khoa học lôgíc là bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Hêghen, vì nó nghiên cứu tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất nhưng là điểm xuất phát của toàn bộ hệ thống, vì như ông viết: “vận động lên phía trước là sự quay trở về nền tảng về điểm đầu và chân lý”. Hêghen coi lôgíc là khoa học về tư duy, về những phạm trù và quy lnật của tư duy, hơn nữa ông phân biệt hai dạng tư duy: tư duy tự nó, chính là tinh thần tuyệt đối tạo thành bản chất của toàn bộ hiện thực, tư duy cho nó tức là tư duy con người đây là tư duy tự nó phát triển cao nhất, là giai đoạn tư duy có ý thức. Hêghen khẳng định giới tự nhiên cũng chỉ là tư duy thể hiện dưới dạng các sự vật vật chất. Luận điểm xuyên suốt toàn bộ lôgíc học và hệ thống của ông là: “cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”. Với Hêghen, phép biện chứng là linh hồn của lôgíc học. Ông quan niệm tư duy như một quá trình phát triển biện chứng và như sự thống nhất của ba yếu tố: giác tính, biện chứng, tư biện. Theo Hêghen triết học tự nhiên là nghiên cứu lý luận giới tự nhiên, được hiểu như tồn tại khách quan của tinh thần, quá trình hình thành giới tự nhiên từ tinh thần đồng thời với quá trình tinh thần ngày càng biểu hiện ra thành tự nhiên, quá trình này diễn ra liên tục và bất tận. Ông khẳng định tồn tại nhiều cấp độ phát triển khác nhau về chất của tự nhiên, như Cơ học, vật lý học... Về pháp quyền, Hêghen cho rằng gia đình và xã hội công dân chịu sự chỉ đạo của nhà nước, nhà nước chính là “sự ngao du” của Chúa trời trong xã hội con người, nó thể hiện tinh thần tuyệt đối. Nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử. Theo quan niệm của ông lịch sử là phương thức tồn tại và kết quả hoạt động của con người nhưng nó chỉ diễn ra theo những quy luật khách quan và tất yếu, không theo sự định hướng của bất cứ cá nhân nào. Trên phương diện thẩm mỹ học, Hêghen cho rằng sáng tạo nghệ thuật vừa mang tính chủ quan của con người lại vừa mang nội dung khách quan nhất định.
Lútvích Phoiơbắc (1804-1872), nhà triết học duy vật, người Đức, lúc đầu ông chịu ảnh hưởng của triết học Hêghen, về sau ông ngày càng ngả sang lập trường duy vật. Theo Phoiơbắc, con người là sản phẩm của “tự nhiên, bản chất của nó là tổng thể các khát vọng, nhu cầu, ham muốn và khả năng tưởng tượng của chính mình”, đồng thời ông khẳng định con người có sự thống nhất hữu Cơ với tự nhiên. Phoiơbắc tuyên bố chỉ đưa ra một khái niệm và mọi thứ đều xoay quanh khái niệm này, đó là khái niệm Cá thể. Ông cho rằng cá thể bao hàm toàn bộ con người, bản chất của con người là một bản chất chung và bản thân nó là cá thể. Về tôn giáo Phoiơbắc quan niệm nó là sản phẩm tất yếu của cả tâm lý cá nhân lẫn bản chất con người. Tóm lại ông cho rằng tôn giáo là bản chất con người đã bị tha hóa.
Các Mác (1818-1883), nhà triết học Đức. Kế thừa, phát triển và phê phán đến mức độ đảo ngược tinh hoa của triết học Đức, ông là người sáng lập ra Chủ nghĩa cộng sản khoa học, ông cho rằng triết học phải đấu tranh chống lại tất cả các vị thần trên trời cũng như dưới trần thế và nó phải phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị thực tiễn nhằm giải phóng nhân loại bị áp bức. Trên những thành quả ấy, ông là người sáng lập ra duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, một phương pháp luận cách mạng về khoa học để nhận thức thế giới tự nhiên và xã hội loài người, nhận thức khoa học và đấu tranh giai cấp. Theo Mác, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ tức những mối quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành Cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái Cơ sở hiện thực, trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị và những hình thái xã hội nhất định tương ứng với Cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại chính sự tồn tại và phát triển của xã hội quyết định ý thức của họ... Mác cho rằng các quan hệ sản xuất tư sản là hình thức đối kháng cuối cùng của quá trình sản xuất xã hội. Nhưng những lực lượng sản xuất phát triển trong lòng xã hội tư sản đồng thời cũng tạo ra những điều kiện vật chất để giải quyết đối kháng ấy. Theo Mác, với hình thức xã hội đó, thời kỳ tiền sử của xã hội loài người đang kết thúc. “Sự tồn tại xã hội quyết định ý thức con người và các mối quan hệ sản xuất tư sản là hình thức đối kháng cuối cùng của quá trình sản xuất xã hội”. Mác cho rằng ý niệm là vật chất được đem truyền vào trong đầu óc con người và được cải biến tại đó. Về phép biện chứng của mình, ông cho rằng: “...trong quan niệm tích cực về cái hiện tồn, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện tồn đó, về sự diệt vong tất yếu của nó, vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó, vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất nó có tính chất phê phán và cách mạng”. Với nhận thức được quá trình phát triển sự vật là quá trình phủ định của phủ định, với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, có thể nói Mác là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tnết học thế giới.
Chủ nghĩa thực chứng. Là hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy lý, nó trải qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu với sự khởi xướng của A.Côngtơ và sau đó là Spenxơ và Minlơ. Giai đoạn này nó ra đời như một sự chối bỏ triết học, loại trừ những suy lý trừu tượng và tuyên bố chỉ hoàn toàn biết tới “sự việc thực chứng”. Giai đoạn thứ hai xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX với những đại biểu là Makhơ và Avênariút, giai đoạn này chủ nghĩa thực chứng đề xướng một quan niệm duy tâm chủ quan về kinh nghiệm được coi là tổng số của những cảm giác con người, không liên quan gì tới thực tại khách quan. Từ quan niệm sự vật là kết hợp phức tạp của những yếu tố, các nhà thực chứng cho rằng khách thể không thể có được nếu không có chủ thể và các quy luật của tự nhiên không tồn tại một cách khách quan, chân lý khách quan cũng không tồn tại. Giai đoạn thứ ba là chủ nghĩa thực chứng mới, chủ nghĩa này ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phát triển cao vào những năm 50, nó có nhiều chi phái.
Chủ nghĩa nguyên tử lôgíc ra đời từ nhừng năm 1920 với các đại biểu Rutxen, Vitghentainơ, chủ nghĩa này cho rằng yếu tố cấu tạo nên tự nhiên không phải là những sự vật vật chất, mà là những đơn vị lôgíc, tức là những phán đoán trên Cơ sở tri giác. Với “chủ nghĩa nhất nguyên trung lập”, Rutxen muốn xóa bỏ sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, cho rằng tinh thần và vật chất chỉ là hai hình thức khác nhau của kinh nghiệm: tài liệu chủ quan là kinh nghiệm trực tiếp, tài liệu khách quan là kinh nghiệm gián tiếp. Chủ nghĩa nguyên tử lôgíc quy đối tượng và nhiệm vụ của triết học ở sự phân tích ngôn ngữ khoa học bằng cách lợi dụng những thành tựu của lôgíc ký hiệu. Triết học phân tích ngôn ngữ do Vítghenstainơ và Murơ đề xướng, nó không chỉ chú ý tới “ngôn ngữ khoa học” được xây dựng một cách nhân tạo mà còn chú ý tới “ngôn ngữ tự nhiên”. Trung tâm phát triển của chủ nghĩa thực chứng mới là “trường phái Viên” với các tên tuổi như Cácnáp, Slích, Nâyrát... Theo lập trường của chủ nghĩa thực chứng thì nó phủ định phép quy nạp và đề xuất chủ nghĩa quy giản, tức là loại bỏ những mệnh đề lý thuyết, thay vào đó mệnh đề kinh nghiệm, mệnh đề nguyên tử và mệnh đề Proteole. Đặc biệt sự ra đời của chủ nghĩa vật lý là một chủ nghĩa quy ước đặc biệt của chủ nghĩa thực chứng mới, nhằm thống nhất lại tất cả mọi khoa học trên Cơ sở một ngôn ngữ thống nhất, là bước nhấn tới triệt để về quan niệm của chủ. nghĩa thực chứng mới. Và chủ nghĩa này đã quy giản ngôn ngữ vật lý về “ngôn ngữ hiện tượng chủ nghĩa”, là thứ ngôn ngữ của những điều có thể quan sát trực tiếp bằng cảm quan của chủ thể.
Chủ nghĩa hiện sinh, ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất và đạt tới cao trào trong những năm 50-60. Chủ nghĩa hiện sinh chia ra thành nhiều trào lưu: chủ nghĩa hiện sinh vô thần, chủ nghĩa hiện sinh công giáo, chủ nghĩa hiện sinh tin lành. Nguồn gốc tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ các bậc tiền bối như Pascan, Đêcáctơ, Cantơ, Phíchtơ, Nítsơ, nhưng “hiện tượng học” mà người góp phần xây dựng quan trọng là Etmunđơ Huxéclơ mới là Cơ sở quyết định cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh. Huxéclơ quan niệm mục tiêu của “hiện tượng học” là tìm ra được cốt lõi căn bản của bản chất và theo ông có ba thủ tục để đạt tới là: Quy giản hiện tượng, Quy giản bản chất, Sự phân tích mối tương quan giữa hiện tượng nhận thức và đối tượng nhận thức. Đối tượng của chủ nghĩa hiện sinh là sự đồng nhất thế giới hiện hữu và bản thể. Cái ở ngoài tri thức, ở ngoài tư tưởng con người được phái hiện sinh coi là “vũ trụ tự nó”, cái tự nó đã tạo cho thực thể một sự sung mãn đầy ắp, khép kín, tự nó mờ mịt về chính nó, tức là không ý thức. Tự nó là chính nó và không là gì nữa cho nên nó không cần cứu cánh và triệt để hơn nó không có lý do cho sự tồn tại và không có nghĩa gì cả. Chủ nghĩa hiện sinh không hoàn toàn phủ nhận tính khách quan của thế giới vật chất, không thừa nhận “vật tự nó” của Cantơ, nhưng nó cũng nghiêng theo chủ nghĩa bất khả tri. Những người theo chủ nghĩa hiện sinh còn cho rằng hiện hữu của tạo vật là hiện hữu “tự nó”, còn hiện hữu của con người là hiện hữu “vị nó” và do đó vũ trụ là “vũ trụ vị tôi.” Các nhà hiện sinh cho sự xuất hiện của hiện hữu như một sự tình cờ, một huyền nhiệm lớn và chỉ có những ai thực sự muốn một cuộc sống cao hơn mới có hiện hữu. Điểm quan trọng nữa là các nhà hiện sinh khẳng định ở con người, hiện hữu có trước bản chất, còn ở sinh vật thì ngược lại, bản chất có trước hiện hữu. Về bản chất họ cho rằng bản chất phổ quát làm con người trở thành người, nhưng chỉ có bản chất cá nhân mới dẫn đến sự tự do. Lựa chọn bản chất chính là lựa chọn tự do và sự lựa chọn này không có Cơ sở, không khuôn mẫu, tất cả chỉ là dự phóng mà dự phóng có nghĩa không có sự hơn kém và thiện ác sẽ không phân biệt được. Vì không ngừng phải lựa chọn cho nên con người chỉ còn biết nhập cuộc, phải biết “xuống thuyền” và đây chính là khả năng của sự hiện hữu, khả năng để trở thành cái mà con người muốn trở thành. Như vậy xuất hiện cái gọi là Tha nhân, sự hiện hữu của Tha nhân là tội tổ tông của con người cho nên nó gắn chặt với thân phận con người. Mặt khác, Tha nhân chính là kẻ tranh chấp với cái tôi chủ thể vì thế Tha nhân là địa ngục làm cái tôi bị tha hóa. Chủ nghĩa hiện sinh cho tha hóa là hiện tượng vĩnh cửu vì nó thuộc bản chất con người và họ đề cao sự cô đơn, cho nó là cảm tính của những cá nhân kiệt xuất.
Chủ nghĩa Tômát mới. Chủ nghĩa này là triết học của Tômát Đacanh, ra đời từ thời trung cổ ở Tây Âu. Bước sang thế kỷ XIX nó được coi là triết học chính thống của giáo hội Cơ đốc giáo. Chủ nghĩa Tômát mới cho rằng bản thể là hiện thực phổ quát nhất, bằng cách loại suy, có thể tìm thấy nó ở bất kỳ khía cạnh nào. Chúa là bản thể tối cao, tuyệt đối và bản chất với hiện hữu của Chúa là thống nhất cho nên Chúa là nguyên nhân cũng là nguồn gốc mọi hiện hữu. Bản thể tối cao là sự viên mãn của mọi sự hoàn hảo, đã hình thành sẵn toàn bộ nội dung của mình, toàn bộ sự xác định của mình. Chủ nghĩa Tômát chia bản thể thuần túy thành nhiều dạng. Theo họ những bản thể riêng biệt, những sự vật, hiện tượng nảy sinh là kết quả của cơ cấu, của sự vận động, của sự thực hiện tiềm năng hướng tới hành vi, bản thể tối cao không nằm trong sự phân chia này vì Chúa là hành vi thuần túy. Về căn bản, Cơ sở triết học tự nhiên của chủ nghĩa Tômát cho rằng vật chất là bản nguyên thụ động hoàn toàn, nhờ có hình thức không vật chất, nó sẽ hướng tới một dạng nhất định. Những người theo chủ nghĩa này cho rằng sự phát triển và tiến hóa có nguồn gốc trong ý chí của Chúa cho nên nội dung của nó là sự quy định sẵn của Chúa. Họ chia chân lý làm hai loại: Chân lý tương đối, và chân lý tuyệt đối, trong khi đó con người vì mang tội tổ tông cho nên không có khả năng nhận thức được chân lý tuyệt đối mà phải nhờ vào đức tin mới nhận ra được. Chủ nghĩa Tômát quan niệm thế giới có ba kiểu quan hệ giữa cá nhân với xã hội: chủ nghĩa cá nhân (ám chỉ chủ nghĩa tư bản), chủ nghĩa tập thể (ám chỉ chủ nghĩa xã hội) và chủ nghĩa đoàn kết. Về căn bản chủ nghĩa Tômát khẳng định con người được sáng tạo theo hình ảnh của Chúa, cho nên nó phải tự hoàn thiện theo hình ảnh ấy và coi đó là điều luôn phải hướng tới.
Chủ nghĩa duy lý phê phán. Đây là chủ nghĩa do Pôpơ, nhà triết học người Anh sáng lập. Về căn bản ông chống lại chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Pôpơ cho rằng các lý thuyết nói chung không tồn tại, có chăng chỉ là các giả thuyết mà giả thuyết này cũng bị bác bỏ vì không thuộc các lý thuyết chân thực. Nguyên tắc phủ định là cốt lõi toàn bộ học thuyết của Pôpơ, ông mượn thay thế nguyên tắc kiểm chứng của chủ nghĩa thực chứng mới bằng nguyên tắc phủ định. Pôpơ muốn thực hiện lôgíc phát minh chứ không phải chỉ phân tích tri thức đã có sẵn, bằng phương pháp thử nghiệm và loại bỏ sai lầm nhằm phân tích tri thức, lý luận với tư cách là sự phủ nhận những lý luận trước đó. Đối tượng của phát minh là tiền đề và phản tiền đề. Pôpơ còn đưa ra học thuyết về “ba thế giới”: thế giới các hiện tượng vật lý, thế giới tâm lý cá nhân, thế giới lôgíc của tri thức và văn hóa.
(Nguồn: “Bách khoa tri thức phổ thông”
Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin)
|
|
|
|
|
|