Các tôn giáo phổ biến ở Việt Nam
Các nhà nghiên cứu tôn giáo nói chung đều cho rằng Phật giáo là tôn giáo vào Việt Nam sớm nhất, khoảng cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III sau công nguyên.
Cuối thế kỷ II người Giao Châu đã bắt đầu tiếp xúc với Phật giáo từ Tây Vực (Tây Trúc Ấn Độ) và một con đường khác từ Trung Quốc truyền vào theo chân các đạo quân xâm lược của nhà Hán.
Theo sử liệu Trung Quốc, sau khi Hán Linh Đế tạ thế, Trung Quốc đại loạn, Mâu Dung người Thương Ngô (nay là Ngô Châu thuộc tỉnh Quảng Tây), tránh nạn qua đất Giao Chỉ (vùng Bắc Bộ ngày nay) và mang theo giáo lý đạo Phật vào truyền bá cho cư dân bản địa ở đây. Cũng theo sử sách Trung Quốc chép lại thì đầu thế kỷ III, Khang Tăng Hội là nhà sư của nước Khang Cư từng theo cha mẹ từ Tây Trúc (Ấn Độ) di cư tới Giao Chỉ. Giữa thế kỷ III (khoảng năm 255) nhà sư Ấn Độ Chi Cương Lương dịch “Kinh pháp hoa tam muội” ở Giao Châu.
Từ thế kỷ III đến thế kỷ IV, Giao Châu là khu vực hội hợp của Phật giáo và văn hóa Trung Ấn. Đất Luy Lâu (Dâu Thuận Thành, Bắc Ninh hiện nay) là nơi đạo Phật phát triển rất mạnh mẽ, trở thành một trung tâm Phật giáo ở Việt Nam.
Từ thế kỷ II đến thế kỷ V, Phật giáo phát triển ở Việt Nam dưới ảnh hưởng chủ yếu của Phật giáo Ấn Độ. Thế kỉ V, cao tăng Ấn Độ Darmadera (Đạt Ma Đề Bà) hành đạo ở Việt Nam và đào tạo được Huệ Thắng thành một nhà sư nổi tiếng lúc bấy giờ, được Phật giáo Trung Quốc mời sang giảng kinh Phật ở Kim Lăng (sau này về già ông quy tiên ở Trung Quốc).
Phật giáo vào nước ta đầu tiên ở phía Bắc và cũng phát triển chủ yếu ở đây, mang tư tưởng Đại Thừa và sau đó hưng khởi và lan tỏa ra toàn quốc - nên được gọi là Phật giáo Đại Thừa hay Bắc Tông. Từ thế kỷ XI, XII Phật giáo truyền từ phương Nam lên (từ Xrilanca qua Cămpuchia vào Việt Nam) mang tư tưởng Tiểu Thừa nên cũng được gọi là Phật giáo Tiểu Thừa hay Phật giáo Nam Tông.
Từ 544 đến 601, nhà nước Vạn Xuân được thành lập đã có quan hệ chặt chẽ với Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc. Và từ đó cho tới khi Việt Nam giành được độc lập, kết thúc một ngàn năm đô hộ của phương Bắc, Phật giáo Trung Quốc đã có ảnh hưởng tới Việt Nam nổi trội hơn. Một số dòng Thiền từ Trung Quốc bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Đầu tiên là phái Thiền tông. Năm 580, nhà sư nổi tiếng Vinitaruci (Tì Ni Đa Lưu Chi) người Ấn Độ sau 7 năm tu luyện ở Tràng An Trung Quốc, thờ Tăng Xán, tổ thứ 3 Thiền tông làm sư phụ đã tới Việt Nam, trụ trì tại chùa Pháp Vân, truyền giảng Thiền pháp. Hoạt động của phái Tì Ni Đa Lưu Chi (Diệt Hỷ) trong thời gian. từ 580 đến 1216 đã trải qua 19 đời Pháp chủ, trong đó có những thiền tăng nổi tiếng như Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Huệ Sinh, v.v...
Trước năm 820 nhà sư Vô Ngôn Thông đời Đường Trung Quốc đã đến chùa Kiến Sở (thuộc xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội) truyền thụ Thiền pháp cho Cảm Thành và dần hình thành phái Thiền Vô Ngôn Thông (còn có tên gọi khác là phái Quan Bích). Vô Ngôn Thông là đệ tử của sư Bách Trượng Hoài Hải của Trung Quốc, người tuyên truyền Thiền Nam Tông của Tuệ Năng. Hệ phái này đã trải qua 15 đời với 49 thiền sư được nêu tên cho tới thời nhà Trần giữa thế kỷ XIII.
Có thể nói giai đoạn từ thế kỷ XIV là giai đoạn Phật giáo Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ, xuất hiện nhiều nhà sư nổi tiếng.
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV là thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam. Dưới các triều phong kiến như triều nhà Đinh (968-980), rồi Tiền Lê (980-1009), Lý (1009-1225), Trần (1226-1400)... đạo Phật đã trở thành trụ cột tinh thần chủ yếu của chính quyền phong kiến từ Trung ương đến địa phương. Lúc đó “đế và tăng cùng cai trị thiên hạ”. Nhiều vị cao tằng trở thành quốc sư và là cố vấn cho nhà vua trên nhiều lĩnh vực hoạt động.
Năm 1010, sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi Lý Thái Tổ đã cho xây dựng một số chùa ở phủ Thiên Đức, khôi phục và xây dựng nhiều hoàng tự (chùa của nhà vua) ở trong và ngoài kinh thành Thăng Long, số sư tăng đã lên tới hàng ngàn người.
Vào thời vua thứ 3 nhà Lý là Lý Thánh Tông một phái Thiền Tông khác đã từ Trung Quốc vào nước ta, đó là phái Thiền Thảo Đường còn gọi là phái Tuyết Đậu Minh Giác phái do nhà sư Thảo Đường lập ra (1054-1071?). Thảo đường là môn đệ của Thiền sư Hối đường (Tổ Tâm) của phái Hoàng LongTrung Quốc - là ông tổ thứ 13 của hệ Nam Nhạc. Thảo Đường là tù binh bị quân nhà Lý bắt khi tấn công Chiêm Thành, được Thánh Tôn ưu ái phong làm quốc sư và sau này chính Thánh Tôn lại trở thành đệ tử đời thứ nhất của nhà sư tài danh này. Chủ trương của phái Thảo Đường là “Thiền Tịnh nhất trí”, đem tu Thiền và niệm Phật kết hợp lại. Phái này phát triển chủ yếu trong giới quý tộc phong kiến đời Lý, có 3 thiền tăng làm vua là Lý Thánh Tôn, Lý Anh Tôn và Lý Cao Tôn.
Có thể nói đời Lý là thời kỳ đạo Phật được trọng dụng nhất và hưng thịnh nhất ở Việt Nam (từ 1010 đến 1225).
Sang thời nhà Trần, trong khoảng 175 năm triều Trần, đạo Phật tiếp tục phát triển. Vua Trần Nhân Tông rời bỏ ngai vàng đi tu lập ra phái Thiền Trúc Lâm. Ba vị tổ của phái này là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang (Trúc Lâm tam tổ).
Về cuối đời Trần, vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam ngày càng tăng lên. Bởi Nho giáo đã đưa ra được những học thuyết mà giới thống trị phong kiến thấy có thể vận dụng được trong quản lý và điều hành các chế định của nhà nước phong kiến. Nho giáo đề cao uy quyền của nhà vua, xây dựng hệ thống chính quyền quan liêu từ trên xuống dưới, bảo đảm được mối quan hệ giữa nhà nước phong kiến và thần dân. Vai trò của Phật giáo trong chính quyền và nhân dân ngày càng giảm sút nhường chỗ cho vai trò Nho học ngày càng được coi trọng và tăng lên. Đến đời Hồ Quý Ly (thế kỷ XV) thì Nho giáo thay Phật giáo chiếm vai trò độc tôn. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Phật giáo vẫn còn khá mạnh trong dân chúng, ngay cả trong giới nho sĩ. Song, về cơ bản lúc này Phật giáo đã về chốn làng quê “đất vua chùa làng” hòa vào cuộc sống quảng đại quần chúng nhân dân nơi thôn dã.
Triều Lê (1428-1527), Nho giáo đã được đẩy lên hàng quốc giáo, Phật giáo bị hạn chế. Đời vua Lê Thánh Tông (14601497) đã ra lệnh đình chỉ xây dựng chùa chiền ở các nơi, không cho phép mở rộng đất đai giao nhà chùa quản lý.
Trong vòng 200 năm tử thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVII, chế độ phong kiến Việt Nam trong giai đoạn suy tàn, các cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc và Trịnh - Nguyễn làm cho nhân dân điêu linh cực khổ trong cảnh “nồi da sáo thịt”. Những giá trị đạo đức Nho học bị đảo lộn. Tầng lớp phong kiến muốn dùng Phật giáo để ru ngủ nhân dân, làm giảm sự phẫn uất của dân chúng với chính quyền phong kiến. Còn quần chúng nhân dân muốn tìm sự giải thoát nỗi thống khổ trong tín ngưỡng. Cả hai lý do trên đã làm cho đạo Phật khôi phục và hưng thịnh trở lại, tuy không thể phát triển rực rỡ như thời nhà Lý và đầu đời nhà Trần.
Ở Đàng trong, chúa Nguyễn Hoàng xây chùa Thiên Mụ (Huế) năm 1600. Trong thời gian này ở một số phái Thiền Tông từ Trung Quốc tiếp tục được du nhập như phái Thiền Lâm Tế và phải Tào Động.
Thiền Lâm Tế truyền bá tư tưởng “Thiền Giáo nhất trí” có ảnh hưởng tương đối lớn ở Trung và Nam Bộ nước ta.
Phật giáo Việt Nam là Phật giáo Thiền Tông nhưng không thuần túy, nó có sự kết hợp các yếu tố của Tịnh Tông, Mật Tông. Mặt khác, trong khi du nhập vào Việt Nam, đạo Phật đã tiếp thu và kết hợp với các yếu tố văn hóa dân gian, Đạo giáo.
Nửa cuối thế kỷ XIX đến 1945, Phật giáo bị chèn ép. Số lượng tín đồ phật tử và số người am hiểu Phật giáo giảm sút đáng kể.
Cách mạng tháng 8 thành công vào dân tộc ta bước vào kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược, Hội Phật giáo cứu quốc được thành lập cùng toàn dân chống Pháp.
Năm 1950, Hội Phật giáo cứu quốc tham gia thành lập Hội thân hữu phật tử thế giới (WFB).
Trong 20 năm chống Mỹ xâm lược (1955-1975) là giai đoạn Phật giáo Việt Nam biến đổi nhiều nhất từ khi Phật giáo xuất hiện ở nước ta. Đất nước tạm chia làm hai miền, Phật giáo cũng chia thành hai nửa.
Giới Phật giáo miền Bắc được quy tụ trong Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (thành lập 1958) vừa hoạt động tôn giáo, vừa hoạt động xã hội.
Cùng thời gian này, ở miền Nam, Tổng hội Phật giáo Việt Nam (được thành lập 1957 trong vùng tạm chiếm) tham gia Liên hữu Phật giáo thế giới. Miền Nam trong thời kỳ Mỹ - Ngụy tồn tại 6 hội đoàn của Phật giáo trong Tổng hội Phật giáo Việt Nam.
Tháng 4-1964, Phật giáo miền Nam tổ chức đại hội, có đại biểu của 11 tập đoàn trong Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo dự và đã lập ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất. Giáo hội Phật giáo đẩy mạnh xây dựng chùa chiền, tịnh xá, niệm Phật đường.
Số chùa trong 20 năm tăng gần 4 lần ở khu vực Sài Gòn. 2 trường cao đẳng, 1 trường trung đẳng, 1 trường sơ đẳng, 17 viện Phật học, 1 trường đại học (Đại học Vạn Hạch) đã được xây dựng trong thời gian này. Hàng loạt tăng ni được cử đi du học ở nước ngoài.
Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Phật giáo 2 miền dần dần thống nhất và đi vào hoạt động tôn giáo bình thường.
Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập để thống nhất các hoạt động của đạo Phật trong cả nước, với mục tiêu “Phụng sự đạo pháp” - “Phục vụ Tổ quốc” và phương châm “đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội”. Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham gia vào tổ chức “Giáo hội Phật giáo thế giới” và tổ chức “Phật giáo châu Á vì hòa bình” (ABCP).
Những năm gần đây, hoạt động Phật giáo có phần sôi nổi hơn. Số người đi lễ Phật, quy y ngày càng tăng và thu hút nhiều tầng lớp xã hội. Lợi dụng hoạt động tôn giáo, ở một số nơi đã có sự trà trộn với mê tín dị đoan, phục hồi hủ tục. Nhiều chùa chiền được tu bổ thậm chí xây dựng mới ở một số địa phương và không ít những kẻ vô tâm đã sử dụng hoạt động tôn giáo vào mục đích trục lợi đang bị các sư tăng, tín đồ chân chính lên án.
Đến nay, nước ta có khoảng 20 triệu tín đồ Phật giáo Đại Thừa và khoảng 2 triệu tín đồ Phật giáo Tiểu Thừa ở Nam Bộ, chiếm gần 1/3 số dân toàn quốc. Là một tôn giáo có số lượng đông đảo nhất ở Việt Nam.
Cuối thế kỷ XV và trong thế kỷ XVI đã có một số giáo sĩ phương Tây đến các tỉnh thuộc miền duyên hải Việt Nam.
Thời vua Lê Trang Tông, năm thứ nhất (1553), các cha đạo thuộc dòng Đaminh và Phanxicô đã theo các thuyền buôn tới vùng Ninh Cường, Quần Anh (Nam Định) để rao giảng Kinh thánh. Song chưa thông thạo địa lý, chưa quen khí hậu và bất đồng ngôn ngữ nên các giáo sĩ này chỉ hoạt động một thời gian ngắn, không mang lại kết quả gì, họ đã phải ra.
Sang thế kỷ XVII, việc truyền đạo Thiên Chúa vào các vùng lãnh thổ Việt Nam mới thực sự bắt đầu và đạt kết quả. Những vị giáo sỹ này với lòng nhiệt tình trước Chúa đã rao giảng Kinh thánh được nhiều nơi cho nhiều cư dân bản địa và thực sự có hệ thống.
Ở Đàng trong, từ 1615 đến khoảng 1639, nhóm giáo sỹ dòng Tên của người Bồ Đào Nha do Busômi dẫn đầu đã đến truyền đạo Thiên Chúa giáo cho nhiều tín đồ địa phương (theo sự ghi chép quá trình truyền đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, họ đã vận động và đưa vào đạo được một vạn người).
Năm 1624, Alếchxăng Đơ Rốt (1591-1660) đã đến Việt Nam cùng đoàn Busômi để truyền đạo ông cũng là một linh mục thuộc dòng Tên nhưng quốc tịch Pháp, phục vụ cho giáo đoàn Bồ Đào Nha. Alếchxăng Đơ Rốt là một giáo sĩ rất tận tụy phục vụ ý đồ mở mang nước Chúa của Giáo hội Thiên Chúa giáo. Đến Việt Nam, ông không quản sự xa lạ thủy thổ và khí hậu nhiệt đới rất khác biệt với xứ sở đã sản sinh ra ông, ông đã đi nhiều địa phương từ Nam ra Bắc và ngược lại để tìm hiểu cuộc sống người Việt Nam. Sau 6 tháng đến Việt Nam, Alếchxăng Đơ Rốt đã có thể giảng đạo cho giáo dân bằng tiếng Việt. ông không chỉ là một nhà tu mà còn là một nhà nghiên cứu xã hội học. Cuốn “Lịch sử, phong tục Việt Nam” do Alếchxăng Đơ Rốt viết rất có giá trị cho những nhà truyền đạo từ phương Tây vào Việt Nam tiếp sau đó, để khỏi bị ngỡ ngàng vì phong tục, tập quán của một dân tộc ở Á Đông. ông là người đã biên soạn cuốn từ điển Việt-La-Bồ đầu tiên. Alếchxăng Đơ Rốt ở Việt Nam tới 21 năm (1624-1645) mới ra.
Trên cơ sở đã đạt được trong quá trình truyền giáo ở Việt Nam, Alếchxăng Đơ Rốt đã có bản phúc trình với Tòa thánh Vaticăng đề nghị cho người Pháp thay thế người Bồ Đào Nha làm nhiệm vụ truyền giáo trên toàn cõi Việt Nam.
Năm 1649, Alếchxăng Đơ Rốt được bề trên ở Ma Cao cho về Vaticăng để báo cáo tình hình hoạt động truyền giáo và khuyến nghị với Đức giáo hoàng tăng thêm lực lượng cho vùng nước Chúa mới mở mang này. Chấp thuận đề nghị của Alếchxăng Đơ Rốt, Giáo hội đồng ý để ông được chọn một số giáo sỹ người Pháp và đề nghị vua Lui XIV và Hoàng thái hậu Anna Ôtrinxơ lập một hội truyền giáo trực thuộc Giáo hội Pháp. Đó là Hội thừa sai Pari (ra đời 1654).
Năm 1655, Alếchxăngđrơ được bầu làm Giáo hoàng thay J. Nôxăng; ngày 17-8-1659, Giáo hoàng Alếchxăngđrơ đã cử Frăngxoa Paluy và Pie Đờ Lamốt Lămbéc sang Việt Nam làm đại diện Tông tòa. Paluy chăm sóc việc đạo ở đàng ngoài còn Lămbéc ở Đàng trong. Nhưng khi đến Việt Nam, Chúa Trịnh đã không cho Paluy vào đàng ngoài, nên phải trở sang Thái Lan và từ đây điều khiển các giáo sĩ đã vào được đàng ngoài làm công việc truyền giáo.
Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực và khôn khéo, Paluy và Lămbéc đã thành lập được ba giáo khu đại diện Tông tòa ở 3 nơi: Đàng trong, Đàng ngoài và Tây Đàng ngoài.
Đến cuối thế kỷ XVII đã có 25 linh mục là tu sĩ dòng Tên được phong.
Ở Đàng ngoài, Chúa Trịnh cho Thiên Chúa giáo là tà đạo nên đã tiến hành bách hại giáo sĩ nhiều lần, điển hình là vào năm 1712, 1721, 1737, 1845 và 1773. Tuy thế, công cuộc Phúc âm hóa ở Đàng ngoài lại đạt được kết quả rất đáng kể.
Còn ở Đàng trong, cùng thời gian này nhiều giáo sĩ dòng Tên lại được giao đảm nhiệm nhiều cương vị trọng yếu trong phủ Chúa Nguyễn.
Năm 1858 Pháp mới chính thức xâm lược Việt Nam, nhưng ngay năm 1669, Paluy người chăm sóc phần hồn cho giáo dân Đàng ngoài - đã gửi Bộ trưởng Hải quân Pháp một bức thư yêu cầu quân đội Pháp sớm chiếm lưu vực sông Hồng.
Năm 1753, Cố Tây Xanhphanlơ đã gửi thư cho Đuypôléc - chủ Công ty Đông Ấn của Pháp - một tập tài liệu tỷ mỉ về Việt Nam.
Vào những năm 1776 đến 1784, Nguyễn Ánh đã gặp giám mục Pinhô Đơ Bêhen (còn gọi là giám mục thánh Ađrăng hay Bá Đa Lộc - cha cả). Qua các cuộc tiếp xúc Nguyễn Ánh và Pinhô Đơ Bêhen đã thỏa thuận giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện những mưu đồ riêng.
Sau khi Gia Long băng hà (1820), các đời vua sau của nhà Nguyễn (Minh Mạng và đặc biệt là vua Tự Đức) đã thay đổi thái độ và chính sách đối với các giáo sĩ Thừa sai.
Năm 1833, Minh Mạng ra sắc chỉ bách hại giáo sĩ Thừa sai lần thứ nhất trong khoảng 30 năm, từ 1833 đến 1862 có tới 14 đạo dụ cấm Thiên Chúa giáo được ban bố (đời vua Minh Mạng: 5, Thiệu Trị: 2, và Tự Đức: 7). Trong thời gian này một số giáo sĩ bị triều Nguyễn xử rất nặng như chặt đầu, treo cổ, tù đày... Sở dĩ nhà Nguyễn cấm đạo Kitô vì 3 lẽ:
Trước hết, đạo Thiên Chúa trái với phong tục tập quán người Việt Nam, đụng chạm tới uy quyền nhà vua vẫn được coi là Thiên tử - Con trời, còn giáo sĩ lại thay mặt Chúa trời.
Hai là, Thiên Chúa giáo có sự tranh chấp giáo dân với các đạo khác như Phật giáo, nên bị phản đối. Một số sư sãi, nho sĩ gọi đạo Thiên Chúa là “tà đạo”, “dị giáo” - đã xẩy ra xô xát giữa dân theo đạo Thiên Chúa và không theo đạo Thiên Chúa, nhất là các vùng có xứ đạo phát triển mạnh như Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.
Ba là, đạo Thiên Chúa đã bị Pháp lợi dụng Pháp xâm lược nước ta.
Điều đáng tiếc là, triều Nguyễn không phân biệt được đâu là những kẻ lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục đích xâm lược của Pháp, đâu là những người nhẹ dạ cả tin để kẻ thù dân tộc lợi dụng, nên đã có chính sách không thỏa đáng với Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, có sự trừng phạt dã man đối với cả những bậc tu sĩ chân chính và giáo dân ngoan đạo. Những hoạt động bách hại đạo Thiên Chúa của vua quan triều Nguyễn đã đưa đến hậu quả tai hại là làm cho đại bộ phận giáo dân oán hờn nhà Nguyễn, tạo nguyên cớ cho thực dân Pháp đẩy mạnh các hoạt động xâm lược dưới ngọn cờ giả hiệu “bảo vệ Thiên Chúa, cưu mang người Công giáo”.
Dù bị nhà Nguyễn cấm đoán (mức độ cấm đoán các vua thời Nguyễn đối với Thiên Chúa giáo ở mức độ khác nhau), nửa đầu thế kỷ XIX, Hội thừa sai Pari đã mở rộng được phạm vi ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo.
Giám mục P. Đuygini có vai trò rất lớn trong Thiên Chúa giáo Việt Nam, giai đoạn này. Dưới sự điều hành của Đuygini, Thiên Chúa giáo đã tiến hành xây dựng lại các giáo khu đại diện Tông tòa, tổ chức các lớp dạy giáo lý cho giáo dân, mở các lớp học dạy chữ quốc ngữ, chữ Pháp, chữ Latinh và cả một ít chữ Nho cho tín đồ Thiên Chúa. Việc đào tạo linh mục và thầy giảng là người Việt Nam được đẩy mạnh bằng nhiều cách khác nhau, học cơ bản qua các lớp học hoặc theo cha là người Pháp để truyền nghề trực tiếp. Đuygim không chỉ giữ vai trò quan trọng trong quá trình truyền đạo Thiên Chúa ở Việt Nam mà còn có vai trò rất đáng kể cho sự xâm lược của Pháp với nước ta khi ông ta làm cố vấn cho quân đội Pháp đánh chiếm Hà Nội.
Pháp hoàn tất việc đặt ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam thì Thiên Chúa giáo ở nước ta cũng bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ.
Năm 1886 toàn quốc đã có tới 21 vạn giáo dân. Năm 1890 số giáo dân đã vượt trên 30 vạn. Đàng ngoài có 74 thày giảng là người Việt tổ chức được 3 giáo hội địa phận. Số giám mục người Việt Nam vào cuối thể kỷ XIX tăng lên đến con số hàng trăm.
Mười năm đầu của thế kỷ XX, số giáo dân đã tăng vọt, xấp xỉ 1 triệu người trên cả nước, được tổ chức trong 10 giáo hội địa phận. Số linh mục có tới gần một ngàn người trong đó linh mục người Việt khoảng gần 400 và 207 thầy giảng người bản địa.
Năm 1931, số giáo dân trên toàn quốc đặt con số 1,3 triệu người chiếm gần 5% dân số lúc bấy giờ, có 3.00 nữ tu sĩ. Cả nước có 11 giáo phận. Gần một nghìn trường học do đạo Thiên Chúa quản lý, có khoảng 70.000 học sinh. Riêng Phát Diệm có 270.000 giáo dân, 9 trường học và trên 4.000 học sinh.
Giáo hội Thiên Chúa Việt Nam đã được các cố Tây lập nên, quản lý đến từng họ đạo. Hệ thống giáo lý, giáo luật, kinh sách đã dần được hoàn chỉnh, để rao giảng tư tưởng Kitô cho giáo dân và quản lý giáo dân ngày một chặt chẽ về tư tưởng và tổ chức.
Các giáo sĩ người Tây được gọi là Cố, giáo sĩ người Việt được gọi là Cụ. Các linh mục người Việt có một thời gian được coi là thấp hơn linh mục người Tây và khi gặp nhau linh mục Việt Nam phải lạy Cố Tây. Những xứ đạo lớn đều do các cố Tây cai quản. Các linh mục Việt Nam không được bình đẳng với các cố Tây.
Cách mạng tháng 8-1945 thành công, cũng như đồng bào cả nước, những linh mục, tu sĩ, giáo dân “Kính chúa - Yêu nước” đều hân hoan chào đón như một sự kiện trọng đại của lịch sử nước nhà. Giám mục Nguyễn Bá Tòng được Tòa thánh Vaticăng thụ phong năm 1933, cùng một số linh mục khác viết tờ thỉnh cầu lên Đức giáo hoàng đề nghị bảo trợ cho nền độc lập Việt Nam vừa giành được.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, chính quyền Pháp đã có sự thỏa thuận với Giáo hoàng về hoạt động Thiên Chúa giáo Việt Nam nhằm mục đích phục vụ ý đồ xâm lược của Pháp đối với Việt Nam.
Đờlát Đờ Tátxinhi đã sang Vaticăng dàn xếp để Đôli được cử làm Tổng giám mục và khâm sứ Tòa thánh tại Việt Nam.
Ngày 9-11-1951 , Đôli đã tổ chức hội nghị giám mục toàn quốc và ra một quyết định “phi tôn giáo": Cấm giáo sĩ, giáo dân tham gia kháng chiến, ủng hộ Việt Minh và Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh. Người Công giáo phải hợp tác với Pháp chống lại cộng sản. Theo đó, Giáo hội Thiên Chúa giáo đã thành lập khu Công giáo Bùi Chu - Phát Diệm lôi kéo 4 vạn thanh niên Công giáo vào ngụy quân, ngụy quyền.
Tòa thánh Vaticăng cho Giáo hôị Thiên Chúa giáo Việt Nam thành lập Giáo hội chung trên cả nước và cắt đặt thành 3 giáo tỉnh:
- Giáo tỉnh Hà Nội (Hà Nội, Hưng Hóa, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa, Xã Đoài).
- Giáo tỉnh Huế (Huế, Quy Nhơn, Nha Trang, Công Tum, Phan Thiết, Đà nẵng - 1963 và Buôn Ma Thuật - 1967).
- Giáo tỉnh Sài Gòn (Sài Gòn, Vĩnh Long, Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Đà Lạt, Xuân Lộc - 1960 và Phú Cường - 1966).
Mỗi giáo tỉnh có một vị Tổng giám mục người Việt Nam đứng đầu. Bên cạnh có Khâm sứ Tòa thánh là đại diện của Tòa thánh Vaticăng cắt cử sang.
Ở mỗi giáo tỉnh lại chia ra các giáo phận, tùy theo số lượng tín đồ và khu vực địa lý - hành chính rộng hay hẹp (hiện nay, ở nước ta có khoảng gần 30 giáo phận). Dưới giáo phận là giáo hạt, dưới giáo hạt là giáo xứ, cuối cùng là họ đạo.
Sự phân bố thành các giáo tỉnh, giáo phận, giáo hạt, giáo xứ không theo đơn vị hành chính.
Việc thờ cúng tổ tiên là truyền thống lâu đời của người Việt Nam, dù là người lương (không đạo) hay người giáo (có theo đạo) thì họ vẫn duy trì truyền thống mang tính văn hóa dân tộc này. Tuy nhiên, từ 1962 (có tài liệu nói 1968), Giáo hội Thiên Chúa giáo mới chính thức chấp thuận nguyện vọng của giáo dân cho phép các tín đồ được thờ cúng tổ tiên.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đã đưa một nửa nước sống trong độc lập, một nửa nước tạm thời chưa được giải phóng. Cũng như đạo Phật, Thiên Chúa giáo Việt Nam cũng bị chia cắt thành 2 miền Nam - Bắc.
Đạo Thiên Chúa ở miền Bắc hoạt động trong sự điều hành của Ban liên lạc Công giáo yêu Tổ quốc yêu hòa bình. Năm 1960, hàng giáo phẩm Việt Nam chính thức ra đời. Tòa giám mục Việt Nam từ “hiệu tòa” lên “chính tòa”. Trước khi miền Bắc được giải phóng Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam chỉ như một giáo tỉnh của Pháp, các dòng tu ở Việt Nam do các dòng tu lớn ở các nước xung quanh phụ trách. Công giáo ở miền Nam, có một bộ phận không nhỏ là giáo dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp định Giơnevơ phát triển rất nhanh cả về số lượng tín đồ và cơ sở vật chất. Nhà thờ được xây dựng ở nhiều nơi. Giáo sĩ được đào tạo đông đảo cả ở trong nước và nước ngoài. Hệ thống nhà trường Thiên Chúa giáo được mở mang từ tiểu học đến đại học.
Năm 1975, nước nhà thống nhất, Thiên Chúa giáo Việt Nam cũng có sự thống nhất, dưới sự điều hành chung của Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam thống nhất.
Năm 1980, tổ chức Đại hội giám mục toàn quốc và lập ra Hội đồng giám mục. Tại đại hội này, những người tham dự đã ra thư chung kêu gọi cộng đồng Thiên Chúa giáo Việt Nam “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.
Năm 1989, Đại hội những người Công giáo Việt Nam đã lập cơ cấu của tổ chức Công giáo Việt Nam bao gồm:
- Hội đồng giám mục.
- Tiểu ban linh mục tu sĩ.
- Tiểu ban giáo dân.
- Tiểu ban phục vụ.
Giáo hoàng đã tấn phong hồng y cho hai vị là Trịnh Như Khuê (1970) và Trịnh Hồng Căn (1987).
Những năm cuối thế kỷ XX, hoạt động Thiên Chúa giáo được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực, như phát triển tín đồ, đào tạo giáo sĩ, quan hệ quốc tế, tổ chức ra nhiều hội đoàn với các màu sắc và hình thức khác nhau. Hiện nay ở Việt Nam có gần 10 triệu tín đồ Thiên Chúa giáo, sinh hoạt trong gần 30 giáo phận, gần 1.500 giáo xứ với hơn 5.000 nhà thờ lớn nhỏ.
Ở Việt Nam, đạo Tin lành được gọi xuất phát từ câu Kinh thánh “Hãy mang Tin lành đi rao giảng khắp thế gian” (Tin lành hay Phúc âm - Evangelical). Thế giới gọi đạo Tin lành bằng nhiều tên khác nhau.
Vào cuối thế kỷ XIX, một số giáo sĩ đạo Tin lành đã tới Việt Nam, đó là những giáo sĩ thuộc tổ chức Tin lành Liên hiệp Phúc âm và truyền giáo - CMA.
Năm 1887, mục sư tiến sĩ A.B. Simpson đã đến Việt Nam sau khi truyền giáo ở Hoa Nam (Trung Quốc) - Simpson là người sáng lập ra CMA.
Năm 1911 các mục sư: Faffray, Hoster, Hosler đến Đà nẵng lập Hội thánh Tin lành đầu tiên tại Việt Nam. Sau đó hai ông này trở về Trung Quốc. Có thể coi năm 1911 là năm đạo Tin lành chính thức hoạt động tại Việt Nam. Trụ sở Hội thánh Tin lành đầu tiên ở Việt Nam đặt tại số nhà 108 đường Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng ngày nay. Tín đồ đầu tiên của đạo Tin lành ở Việt Nam theo sử liệu của đạo Tin lành ghi lại là ông Hoàng Trọng Thừa, một công chức phục vụ cho chính quyền Pháp tại Đà Nẵng. ông học Kinh thánh bằng con đường “tại chức” và sau này, vào năm 1922 ông là người Việt Nam được phong mục sư đầu tiên.
Năm 1915, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương lần thứ nhất ra lệnh cấm đạo Tin lành hoạt động với lý do các giáo sĩ Tin lành Mỹ làm gián điệp cho Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (Pháp là phe chống lại Đức).
Năm 1916, mục sư Faffray là Phó hội trưởng CMA ở Trung Quốc đã phải sang gặp toàn quyền Đông Dương yêu cầu cho các giáo sĩ Tin lành được tự do truyền đạo.
Từ năm 1918 đến 1926 đạo Tin lành ở Việt Nam phát triển khá rầm rộ.
Năm 1918, CMA đã thành lập được 16 chi hội trên toàn quốc (Bắc Kỳ: 5, Trung Kỳ: 6, và Nam Kỳ: 5). Các chi hội Tin lành đều được nhà đương cục của chính quyền Pháp (khâm sứ) và Chính phủ Nam triều cấp phép hoạt động mang một tên chung là Hội thánh Tin lành Đông Dương.
Ba năm liên tiếp 1924, 1925 và 1926 đại hội đồng của đạo Tin lành được tổ chức tại Đà Nẵng.
Trước tình hình ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á ngày một bành trướng, mượn cớ Hòa ước 6-6-1884 chỉ ghi quyền tự do truyền giáo của đạo Thiên Chúa, đạo Tin lành ở Đông Dương một lần nữa lại bị cấm.
Sau đó, năm 1927 nhờ phong trào dân chủ ở Pháp lên cao, lệnh cấm hoạt động đạo Tin lãnh ở Đông Dương mới được dỡ bỏ.
Cùng năm lệnh cấm được hủy bỏ, đại hội lần thứ 4 đạo Tin lành được tiến hành tại Đà Nẵng và bầu Ban Trị sự Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam. Mục sư Hoàng Trọng Thừa được bầu làm Hội trưởng đầu tiên. Tới năm 1928, Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam đã ra được Bản điều lệ.
Năm 1931, Tổng liên hội tổ chức thành ba hạt: Hạt Bắc Kỳ, Hạt Trung Kỳ và Hạt Nam Kỳ.
Năm 1932, đạo Tin lành bắt đầu được truyền giảng cho đồng bào thiểu số ở vùng Tây Nguyên.
Năm 1933, một phái khác của Tin lành là phái Tin lành Cơ đốc phục lâm vào truyền giáo ở một số tỉnh thuộc miền Bắc, lúc đó quen gọi là Hội Sabato (ý chỉ dựa vào việc làm lễ Sabat của phái này vào ngày thứ 7).
Để tránh sự rắc rối đối với Nhật, năm 1943 các giáo sĩ CMA ra tuyên bố “đạo Tin lành không tham gia chính trị”. Tuy nhiên, lần thứ 3 đạo này lại bị liên minh cầm quyền Nhật - Pháp ở Việt Nam cấm hoạt động với lý do “họ làm gián điệp cho Mỹ”. Nhật ra lệnh tập trung các giáo sĩ Tin lành lại một nơi không cho tự do hành đạo, cho tới tận Cách mạng tháng 8/1945 số giáo sĩ này mới được chính quyền cách mạng trả tự do.
So với Phật giáo và Thiên Chúa giáo, đạo Tin lành vào Việt Nam muộn mằn hơn nhiều và những năm đầu truyền đạo gặp không ít khó khăn về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng; trong đó phải kể tới 3 lần chính quuyền Pháp - Nhật cấm, chèn ép. Ra vào lận đận mãi phải mất hơn 20 năm, đạo Tin lành mới đặt được cơ sở đầu tiên ở Đà Nẵng và 40 năm phát triển cho tới tận năm 1954, đạo Tin lành ở Việt Nam mới có khoảng 60 ngàn tín đồ, gần một trăm mục sư truyền đạo, có trụ sở Giáo hội Tin lành của cả nước tại Hà Nội. Đây quả là con số ít ỏi so với Phật giáo và Thiên Chúa giáo.
Sau Hiệp định Giơnevơ, đất nước chia làm hai miền, đạo Tin lành ở hai miền cũng có sự phát triển khác nhau.
Trong chiến dịch di cư vào Nam năm 1954 hàng chục ngàn tín đồ Tin lành, 17 mục sư từ miền Bắc vào miền Nam. Cơ quan Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam chuyển trụ sở từ Hà Nội vào Sài Gòn.
Ở miền Bắc chỉ còn hơn 5 ngàn tín đồ, trên một chục mục sư, giảng sư. Năm 1955, những giáo sĩ, tín đồ Tin lành còn lại trên miền Bắc đã lập tổ chức giáo hội riêng lấy tên là Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam thực chất là Hội thánh Tin lành miền Bắc, với đường hướng vừa hoạt động tôn giáo vừa hoạt động xã hội. Phạm vi ảnh hưởng không lớn, tín đồ được gia tăng không đáng kể.
Ở miền Nam, đạo Tin lành lập ra Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam, thực chất là Hội thánh Tin lành miền Nam. CMA đẩy mạnh hơn bao giờ hết việc đầu tư tiền của, phương tiện, đội ngũ giáo sĩ, giúp Hội thánh Tin lành miền Nam xây dựng hệ thống tổ chức, mở rộng các cơ sở tôn giáo, kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều nơi. Mở rộng phạm vi truyền giáo vào nhiều địa bàn nhất là vùng Tây Nguyên.
CMA đã thành lập một ban trị sự bên cạnh Ban Trị sự Tổng hội Tin lành Việt Nam và hai ban trị sự này đã ký thỏa thuận với nhau phối hợp chung cùng hoạt động. CMA đã cử nhiều mục sư người Mỹ đến các vùng xung yếu để chỉ đạo hoạt động của tín đồ Tin lành.
Tháng 6/1972, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) và Hội liên hiệp Phúc âm và truyền giáo - CMA; đã ký một thỏa ước quy định cụ thể giữa “thuộc viên” - Tổng liên hội, và “mẫu hội” CMA.
Phái Cơ đốc phục lâm là một hệ phái Tin lành từ Mỹ vào Việt Nam trong những năm 30 và phát triển chủ yếu trong những năm 50 - đây là hệ phái lớn thứ hai sau CMA, với trên mười ngàn tín đồ, gần bốn chục mục sư trên ba mươi nhà thờ và một số cơ sở.tôn giáo, xã hội khác. Cơ đốc phục lâm ở miền Nam trước năm 1954 là một địa hạt trực thuộc Tổng hội khu vực Viễn đông (trụ sở đặt ở Xingapo). Cơ quan cứu trợ và phát triển Cơ đốc phục lâm (ADRA: Adventist Development and Riciefg Agency) có vai trò to lớn trong việc mở rộng và củng cố hệ phái (Cơ đốc phục lâm được thành lập từ 1916, trụ sở đặt ở Niu-yóc, có văn phòng đại diện ở trên năm chục nước, chủ yếu là các nước đang phát triển, vào Việt Nam năm 1955).
Về mặt tổ chức, Hội thánh Tin lành miền Nam được tổ chức theo ba cấp:
- Tổng liên hội,
- Địa hạt,
- Chi hội cơ sở.
Đến năm 1975, Hội thánh Tin lành miền Nam đã có 25 vạn tín đồ, hơn 500 mục sư và truyền đạo (chiếm hơn 80% tổng số tín đồ, giáo sĩ thuộc tất cả các hệ phái Tin lành ở miền Nam), sinh hoạt trong hơn 400 chi hội, ở 7 hạt (Bắc Trung, Nam Trung, Trung Thượng, Nam Thượng, Đông Nam, Tiền Giang, Hậu Giang) Tuy nhiên, bên cạnh sự lớn mạnh như đã nói ở trên, Hộì thánh Tin lành miền Nam cũng bị chia rẽ. Một số mục sư truyền đạo tách khỏi Hội thánh Tin lành miền Nam để lập ra các tổ chức khác như Hội truyền giảng Phúc âm, Hội thánh chúa Giêsu, Nam Việt Hoa kiều Cơ đốc giáo hội (của người Hoa ở miền Nam), Cơ đốc truyền giáo.
Ngoài 2 hệ phái Tin lành là Hội thánh Tin lành miền Nam (thuộc CMA) và Hội thánh Cơ đốc phục lâm, còn có hơn hai chục hệ phái Tin lành ở Mỹ hoạt động ở miền Nam.
Nước nhà thống nhất, các giáo sĩ Tin lành người nước ngoài ra đi, một số giáo sĩ người Việt Nam di tản, các hoạt động của đạo Tín lành thu hẹp lại cả về phạm vi cũng như ảnh hưởng.
Ban Trị sự của CMA rút đi, chỉ còn Hội thánh Tin lành Việt Nam với khoảng 450 giáo sĩ, 487 nhà thờ. đạo Tin lành ở miền Nam chủ yếu tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Nam, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang và Tây Nguyên. Ở Tây Nguyên có tới 50.000 tín đồ và 102 giáo sĩ, 50% đồng bào thiểu số ở Gia Lai, Công Tum theo đạo Tin lành.
Mấy năm gần đây, các giáo phái Tin lành đẩy mạnh hoạt động, như: phục hồi các hình thức tôn giáo, phát triển tín đồ, củng cố giáo hội. Trong việc phát triển tín đồ, đạo Tin lành đặc biệt chú ý tới các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc.
Một vài nơi đã tổ chức lễ “bồi linh” giảng Kinh thánh, đặt vấn đề phong chức và thuyên chuyển giáo sĩ. Có những giáo sĩ Tin lánh người nước ngoài dưới hình thức du lịch lữ hành đã tới “3 cùng” với đồng bào H'mông, Thái, Nùng để truyền đạo Tin lành.
Phái Cơ đốc phục lâm hoạt động trở lại khá mạnh mẽ, trong những năm cuối thập kỷ 80 và trong thập kỷ 90, ADPA đã trở lại Việt Nam trong các dự án viện trợ nhân đạo, trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, thủy lợi, ngư nghiệp...
Đến nay, tín đồ đạo Tin lành ở Việt Nam có khoảng 2 triệu người, có cơ sở trong quần chúng ở cả người Kinh và người thiểu số, số tín đồ đang có chiều hướng gia tăng nhanh ở vùng dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Đạo Hồi là theo cách gọi của người Hán đối với dân tộc Hồi thiểu số thờ thánh Ala và Mohamet ở phía Bắc Trung Quốc (theo tiếng Arập và Ixraen nguyên nghĩa là phục tùng).
Hồi giáo được truyền vào Đông Nam Á - trong đó có Việt Nam - vào thế kỷ XI, chủ yếu bằng con đường buôn bán qua các thương nhân Ấn Độ, Arập. Vì vậy mà Hồi giáo ở Đông Nam Á thường bị pha trộn với tín ngưỡng, văn hóa, tập tục địa phương và có phần vay mượn từ các nguồn khác . Nhưng phải tới thế kỷ XVI đạo Hồi mới chính thức du nhập vào Việt Nam.
Gần như cùng thời gian với đạo Thiên Chúa có các giáo sỹ đến Việt Nam đầu tiên.
Hồi giáo vào Việt Nam chủ yếu phát triển trong người Chăm (còn gọi là người Chàm). Sự tiếp thu Hồi giáo của dân tộc Chăm diễn ra trong một hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt.
Thế kỷ XV, dưới các triều vua Lê, nhà nước phong kiến Việt Nam đã đạt đến điểm cực thịnh, vua quan nhà Lê bắt đầu chú trọng đến việc mở mang bờ cõi.
Năm 1693, vua Chăm nổi dậy bị quân của Chúa Nguyễn ở Đàng trong đánh bại. Đất của vua Chăm bị nhà Nguyễn chiếm được lập nên hai tỉnh nay là Bình Thuận và Ninh Thuận.
Người Chăm buộc phải bỏ vùng đất cũ, di cư vào phía Tây và Tây Nam (nay là vùng Châu đốc Việt Nam và Campuchia). Theo truyền thuyết, bi ký, người Chăm vốn theo đạo bản địa cổ là Bà la môn đã biết đến Hồi giáo từ thế kỷ X và XI nay di cư đến miền đất mới và dần dần cải đạo - Bà la môn - sang đạo mới là Hồi giáo. Sau khi những người Chăm nhập đạo Hồi, đã trở về quê hương (khu vực miền Trung hiện nay) vận động bà con còn ở lại theo Hồi giáo. Vì xã hội người Chăm lúc đó còn mang nặng chế độ mẫu hệ - tôn giáo chính là đạo Bàlamôn - nên cuộc vận động theo Hồi giáo không mấy kết quả. Chỉ có khoảng một nửa người Chăm cải đạo theo Hồi giáo gọi là Chămbàni, còn một nửa vẫn giữ đạo cũ (Bàlamôn) gọi là Bà Chăm.
Vào thời nhà Nguyễn, quân của Trương Minh Giảng bị quân An Dương (Campuchia) tấn công phải lui về Châu đốc. Trong số binh lính của quân Trương Minh Giảng có một số người theo đạo Hồi. Cũng thời gian này, một cuộc dấy binh bất thành của người Malaixia và người Chàm ở Campuchia do Tuôn Sết Ít lãnh đạo (18541858), đã dạt sang lánh nạn ở Châu Đốc, được nhà Nguyễn cho định cư. Từ đó lập ra khu vực thứ hai của những người theo Hồi giáo ở Việt Nam là vùng Châu đốc. Một số nhóm Hồi giáo khác được hình thành ở Việt Nam với những lý do khác nhau:
- Nhóm ở khu vực Tây Ninh do việc chạy trốn của hai thủ lĩnh người Chăm từ Campuchia sang vào thế kỷ XVIII.
- Nhóm ở Sài Gòn do nhập cư trong thời thực dân Pháp xâm lược Việt Nam.
- Nhóm ở Đồng Nai mới được hình thành do ý đồ “dãn dân” của Mỹ - Ngụy trong chiến lược ngăn chặn giải phóng trong chiến tranh 1954-1975.
Do những điều kiện khách quan khác nhau, như: địa lý, hoàn cảnh truyền giáo, hoàn cảnh sống, mức độ tiếp xúc, giao lưu quan hệ với thế giới bên ngoài, nhất là với thế giới Hồi giáo, nên đã hình thành hai khối người Chăm theo đạo Hồi ở Víệt Nam.
- Khối Hồi giáo không chính thống gọi là Chămbàni của người Chăm cư trú ở Ninh Thuận, Bình Thuận.
- Khối Hồi giáọ chính thống gọi là Chăm Ixlam của người Chăm cư trú trên các địa bàn: Châu Đốc, Tây Ninh, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh.
Hai khối Hồi giáo này có sự khác biệt có thể khái quát ở những điểm chính sau:
Chămbàni chịu nhiều ảnh hưởng phong tục tập quán, tín ngưỡng truyền thống, nhất là các yếu tố pha trộn với đạo Balamôn và chế độ mẫu hệ nên suy thoái và không chính thống. Nhận thức về Hồi giáo sai lệch nhiều. Coi Môhamét chỉ ngang hàng với các tiên nữ, coi Mếcca là thiên đàng của các nữ thần, thậm chí có tín đồ còn không có sự phân biệt giữa Môhamét với Thánh Ala cho rằng Môhamét - Thánh Ala là đấng sinh thành ra người Chăm. Giáo luật Hồi giáo đã được “Cải biên” đi nhiều, các ngày lễ chính và điều kiêng kị chỉ được thực hiện một cách tượng trưng do các chức sắc đại diện.
Người Chămbàni sống khép kín không có các quan hệ với thế giới Hồi giáo xung quanh nên họ không thực hiện nghĩa vụ hành hương như đạo Hồi quy định cho các giáo dân của mình.
Hầu như trong người Chămbàni không ai biết tiếng Arập, không thuộc kinh Côran và luật Sariát. Bản thân kinh Côran đã được “chuyển thể” cho dễ đọc thành các bài kinh để tụng niệm trong các ngày lễ. Nhiều tập tục quy định khắt khe của đạo Hồi đối với tín đồ của mình cũng bị người Chămbàni không thực hiện như tục cắt da quy đầu (Sunát), lễ cắt tóc (trẻ em đến 15 tuổi phải thực hiện để trở thành tín đồ).
Vai trò của chức sắc Chămbàni rất lớn vì chịu ảnh hưởng của chế độ đẳng cấp, đội ngũ chức sắc có nhiều đặc quyền vật chất và tinh thần, chi phối đến đời sống tín ngưỡng và xã hội của tín đồ. Tuy nhiên chức sắc có nhiều cấp và vai trò đối với tín đồ phụ thuộc vào chức sắc cao hay thấp, được phân theo đơn vị thánh đường làng:
- Cả chùa (Pocru tức Ha kim) cao nhất
- Thày mừng (tức Imâm) - tư tế
- Thày típ (tức Khotib) - trợ tế
- Thày chang (mới được vào hàng chức sắc) làm nhiệm.vụ giám sát.
Trong xã hội Hồi giáo vai trò của phụ nữ bị hạ thấp thì ngược lại với người Chămbàni, phụ nữ rất được coi trọng. Họ có quyền như đàn ông đến thánh đường, người có quyền quyết định vật chất trong các buổi hành lễ. Họ không bị cấm cung, ra đường họ tự do như những phụ nữ khác không phải che mạng, hoặc trùm khăn. Đặc biệt họ có quyền đi hỏi và cưới chồng, người chồng phải ở nhà người vợ và phụ thuộc vào gia đình vợ.
Còn với Chăm Ixlam thì dường như ngược lại trên nhiều phương diện như: sinh hoạt Hồi giáo chính thống và sôi động hơn. Các luật lệ lễ nghi của đạo Hồi được tuân thủ nghiêm ngặt và chặt chẽ như người Hồi giáo Arập.
Họ có quan hệ chặt chẽ với thế giới Hồi giáo qua việc hành hương về thánh địa Mếcca, gửi con em đi học ở các nước Arập Hồi giáo.
Người Chăm ở Việt Nam theo đạo Hồi ở cả 2 khối chính thống và không chính thống chiếm khoảng gần 50% dân số người Chăm, một số người thuộc dân tộc Kinh và dân tộc khác cũng theo đạo Hồi, song số này không đáng kể.
Số người theo đạo Hồi ở Việt Nam hiện nay có khoảng trên dưới 1 triệu người.
Về phương diện tổ chức, Hồi giáo thường tổ chức theo từng quốc gia, chịu ảnh hưởng của tập tục, truyền thống lịch sử và thể chế chính trị của mỗi nước. Ở Đông Dương, thời thuộc Pháp có chức Suykhon Ixlam (XiakhKhul Ixlam) - người đại diện tối cao cho người Chăm và người Mã Lai theo Hồi giáo.
Trong thời kỳ Mỹ - Ngụy ở miền Nam, có thêm chức phó tổng Chăm nằm trong Bộ sắc tộc của chính quyền ngụy. Chức này đại diện cho dân tộc Chăm bao gồm cả hai khối người theo đạo Balamôn và theo đạo Hồi. Vào thập kỷ 50 và đầu 1960, ngụy quyền miền Nam lập ra tổ chức “Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam” (Chàm Việt Nam AssociatimCMMA). Văn phòng ở Sài Gòn. Lúc đầu hiệp hội có ba chi hội và vài trăm hội viên. Đến năm 1964, các khu vực Chăm Ixlam đều tổ chức được các chi hội với 1500 hội viên. Khi miền Nam được giải phóng năm 1975, người Chàm Ixlam đã có 16 chi hội, 3 ban đại diện.
Việc lập Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam và việc du nhập xu hướng cách tân đạo Hồi từ Malaixia vào đã làm cho nội bộ người theo Hồi giáo ở Việt Nam nẩy sinh mâu thuẫn giữa phái chính thống và phái cách tân. Năm 1966, hai phái chính thống và cách tân đã giải quyết được mâu thuẫn nội bộ bằng việc lập ra mặt tổ chức mới mang tên “Hội đồng giáo cả Hồi giáo Việt Nam”, có văn phòng ở Châu đốc (An Giang). Hai tổ chức này tồn tại cho tới ngày Mỹ - Ngụy sụp đổ ở miền Nam. Tuy nhiên, nó chỉ có ảnh hưởng trong khối Hồi giáo chính thống - Chăm Ixlam, còn khối Chămbàni không chịu ảnh hưởng của hai tổ chức này.
Hồi giáo Việt Nam có sự khác biệt giữa các vùng dân cư của người Chăm - nó là tôn giáo chính của dân tộc Chăm. Phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống riêng và văn hóa của người Chăm mang đậm dấu ấn Hồi giáo.
Hiện nay, Hồi giáo Việt Nam đã mở rộng quan hệ với một số tổ chức Hồi giáo quốc tế, Hồi giáo ở một số nước như: Malaixia, Inđônexia, Arập Xêút, Libi... Một số tín đồ Hồi giáo ở Việt Nam đã hành hương tới thánh địa Mếcca, một số được đào tạo làm chức sắc ở một vài nước trong thế giới Arập Hồi giáo.
Khái quát chung
Đạo Cao Đài, tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một trong những tôn giáo phát triển ở miền Nam Việt Nam, được hình thành vào thập niên 1920. Đạo Cao Đài là dung hợp một số tôn giáo đã có để lập ra một tôn giáo mới. Diễn tiến của Tam kỳ phổ độ gồm:
Kỳ I: Phục Hy, Thần Nông, Nhiên Đăng Cổ Phật, Moise Abraham...
Kỳ II: Khổng Tử, Lão Tử, Khương tử, Thích Ca, Jesus...
Kỳ III: Cao Đài. Đích thân Thượng Đế làm giáo chủ với danh hiệu “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-ha-tát”, gọi tắt là Cao Đài. Chính danh hiệu này là sự tổng hợp của ba tôn giáo cơ bản ở Việt Nam là Nho giáo (Cao Đài) - Đạo giáo (Tiên Ông) - Phật giáo (Đại Bồ Tát Ma-ha-tát). Phương tiện liên lạc giữa Thượng Đế và các tiên, thánh giúp cho người là “cơ bút”. Kinh sách chủ yếu là Thánh ngôn hợp tuyển.
Giáo lý Cao Đài cho rằng từ khi có loài người, Thượng Đế đã hai lần cứu rỗi (phổ độ) chúng sinh. Lúc đầu loài người sống riêng rẽ, lẻ loi nên lập các tôn giáo khác nhau để phù hợp với từng vùng. Tất cả các tôn giáo này đều có cùng một gốc là Thượng Đế, và có cùng một mục đích là cứu rỗi chúng sinh nhưng vì tồn tại riêng rẽ nên dẫn đến xung đột. Ngày nay, điều kiện giao lưu dễ dàng, “năm châu chung chợ, bốn phương chung nhà”, Ngọc Hoàng quyết định lập ra tôn giáo mới và tự làm giáo chủ để phổ độ chúng sinh lần thứ ba. Đạo Cao Đài dung hợp tâm linh con người với tâm linh vũ trụ, dung hợp hết thảy các tôn giáo. Tôn chỉ của đạo Cao Đài là “Thiên nhân hợp nhất” và “Vạn giáo nhất lý”.
Sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài
Đệ tử đầu tiên mà Đức Cao Đài chọn để lập đạo là ông Ngô Văn Chiêu (1878-1932). Ông thờ đạo Cao Đài 6 năm trước khi đạo được thành lập chính thức (1926). Là quận trưởng hành chính vào năm 1919 tại Phú Quốc, ông Phủ Chiêu sống cuộc đời hiền đức theo đúng điều luật chặt chẽ của Lão giáo. Ông thường tổ chức các đàn cơ Cầu Tiên để nhận được những lời giáo huấn tâm linh. Trong số những Đấng tiếp xúc được, có một Đấng tự xưng là “Cao Đài”, quan tâm đặc biệt đến ông Phủ Chiêu. Ông Phủ Chiêu xin phép Đấng Cao Đài cho ông được phụng thờ Ngài dưới một hình thức xác thực và ông được lệnh tượng trưng Ngài bằng một con Mắt gọi là Thiên Nhãn. Sau đó, ông Phủ Chiêu được đổi về Sài Gòn. Tại đây, ông thuyết phục được một số người tin theo và gia nhập đạo mới.
Vào giữa năm 1925, một số người Việt Nam tại Sài Gòn vào mỗi buổi tối thường thông công với các Đấng chân linh bằng "bàn gõ". Với những câu hỏi đặt ra, họ nhận được những câu trả lời chuẩn xác đến kinh ngạc. Những phát hiện xúc động ấy giúp họ nhận biết sự hiện hữu của thế giới huyền bí. Nhóm xây bàn gõ đầu tiên có 4 ông: Phạm Công Tắc theo Công giáo, 3 ông: Cao Quỳnh Cư, Cao Quỳnh Diêu và Cao Hoài Sang thì chưa có tín ngưỡng tôn giáo. Vì việc dùng cái "bàn gõ" không tiện lợi, nên một Đấng thiêng liêng bảo phải thay thế bằng "Ngọc cơ”. Với Ngọc cơ, các Đấng có thể viết chữ trực tiếp, việc thông công được tự nhiên hơn và nhanh hơn.
Đấng thiêng liêng khuyên họ nên đến hỏi ông Phủ Chiêu, rất thông thạo về cách cầu cơ trong Thần linh học. Lúc đó, đạo Cao Đài sắp được sáng lập hay nói đúng hơn là sắp bước vào giai đoạn được quần chúng biết đến, bởi từ nhiều năm nay ông Phủ Chiêu đã thờ phụng Đấng Cao Đài.
Sau đó, cũng theo sự chỉ bảo của Đấng thiêng liêng, cả nhóm đến tìm ông Lê Văn Trung là cựu nghị viên Thượng nghị viện Đông Dương. Trước đó, ông Trung đã đến hầu đàn ở Chợ Gạo Phú Lâm và được Đức Lý Thái Bạch độ ông bằng cách dùng huyền diệu làm cho đôi mắt của ông sáng lại vì trước đây ông bị bệnh quáng mắt. Trước 50 tuổi, ông Lê Văn Trung, là một người đam mê vật chất, tham dự cầu cơ một cách tài tử. Đấng Thượng Đế chỉ định ông cùng với ông Phủ Chiêu đưa Đại Đạo đến dân chúng. Kể từ ngày ấy, ông Trung quyết định sống cuộc đời gương mẫu và xứng đáng với sứ mạng mà Đấng Cao Đài giao phó.
Thời điểm ra đời chính thức của đạo Cao Đài vào đêm Nôen 24/12/1925. Đấng thiêng liêng dẫn dắt bấy lâu nay vẫn giữ nặc danh đã tiết lộ với các vị phò cơ rằng ngài là Đấng Thượng Đế đến dưới tên gọi là Cao Đài để truyền dạy chân lý. Ngài chọn ra 12 người lập ra đạo Cao Đài, tên 12 người đó được ghi trong bản “thánh ngôn” như sau:
Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh
Bản đạo khai Sang Quý Giảng thành
Hậu Đức Tắc Cư thiên địa cảnh
Hườn, Minh, Mân đáo thủ đài danh.
Họ tên đầy đủ của 12 tông đồ đầu tiên của đạo Cao Đài là:
1. Ngô Văn Chiêu
2. Vương Quang Kỳ
3. Lê Văn Trung
4. Nguyễn Văn Hoài
5. Đoàn Văn Bản
6. Cao Hoài Sang
7. Nguyễn Văn Quý
8. Lê Văn Giảng
9. Nguyễn Trung Hậu
10. Trương Hữu Đức
11. Phạm Công Tắc
12. Cao Huỳnh Cư
Và 3 đồng tử phò cơ là Hườn, Minh, Mân.
Lòng nhiệt thành và tinh thần bất vụ lợi của các vị tiên phong ngay những ngày đầu tiên đã thu hút một số đông tín đồ. Đạo Cao Đài thoát khỏi phạm vi giới hạn nhỏ hẹp, truyền bá khắp trong dân chúng vào đầu năm 1926. Sau chưa đầy hai tháng đã có hơn 20 ngàn người cải giáo nhập môn vào đạo Cao Đài.
Ông Phủ Chiêu là người được chỉ định trước tiên vào chức vụ chỉ huy tối cao Giáo Tông của đạo Cao Đài, nhưng ông Phủ Chiêu quen với cảnh sống cô tịch né tránh nên ông Lê Văn Trung được chỉ định thay thế cuối tháng tư năm 1926.
Tôn giáo mới phát triển rất nhanh và được dân chúng tiếp nhận nồng nhiệt. Để tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt lúc bấy giờ, các lãnh đạo đạo Cao Đài đưa ra một Tuyên ngôn chính thức có 28 người ký tên, được gởi đi ngày 7/10/1926 đến Thống Đốc Nam Kỳ. Đính kèm theo Tuyên ngôn này là danh sách các tín đồ ký tên gồm 247 người hiện diện trong buổi lễ công nhận sự hiện hữu chính thức của đạo Cao Đài. Bản Tuyên ngôn được chính quyền chấp nhận.
Lễ Khai Đạo diễn ra trong ba ngày: 18, 19, 20-11-1926 tại chùa Từ Lâm Tự ở Gò Kén (Tây Ninh). Nhiều quan chức cao cấp của chính quyền Đông Dương đã tham dự. Đại lễ cử hành rất long trọng, qui tụ nhiều tín đồ đến từ khắp các tỉnh Nam Kỳ. Cuộc lễ cũng thu hút hằng ngàn người ngoại đạo đến xem vì hiếu kỳ hay đến quan sát. Trong lễ này, Hội Thánh Cao Đài được xây dựng và Tân Luật được thiết lập và ban hành.
Để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai, Tòa Thánh Cao Đài được xây mới tại làng Long Thành, tỉnh Tây Ninh trên diện tích rộng 100 mẫu. Việc di chuyển Thánh Thất từ Gò Kén đến làng Long Thành thực hiện vào tháng 3/1927. Số tín đồ tiếp tục tăng lên đáng kể, mỗi ngày cả ngàn người hành hương đến Thánh Thất mới.
Những vị lãnh đạo Cao Đài, vâng theo lời giáo huấn của Đức Chí Tôn, cố gắng giữ mình và tự hoàn thiện trong nền Đại Đạo, bằng cách chỉ quan tâm đến lợi ích về đạo đức và tinh thần của nhân loại nên đến giữa nhưng năm 1930 đạo Cao Đài đã có đến 1.5 triệu tín đồ.
Sau khi Giáo tông Lê Văn Trung mất, Đức hộ pháp Phạm Công Tắc được tín nhiệm kế vị (18/11/1935). Trong giai đoạn này có nhiều hệ phái được hình thành:
- Tòa thánh Tây Ninh, trung tâm của đạo Cao Đài do ông Phạm Công Tắc đứng đầu.
- Cao Đài Ban chỉnh đạo, thánh thất ở An Hội, Châu Thành (Bến Tre) do đốc phủ Nguyễn Ngọc Tương đứng đầu.
- Cao Đài Minh chân lý, thánh thất ở Châu Thành (Mỹ Tho) do đốc phủ Nguyễn Văn Ca đứng đầu.
- Cao Đài Tiên thiên, thánh thất ở Gò Vấp, Phú Nhuận (Sài gòn) do thầu khoán Lê Kim Ty đứng đầu.
- Cao Đài Chiếu minh đàn, thánh thất ở Cần thơ do đốc phủ Ngô Văn Chiêu đứng đầu.
- Cao Đài Minh chân đạo, thánh thất ở nhiều tỉnh miền Tây Nam bộ do Chưởng pháp Trần Đạo Quang và sau đó là cụ Cao Triều Phát đứng đầu.
- Ngoài ra còn nhiều hệ phái Cao Đài khác như: Cao Đài Hội giáo, Liên hòa tổng hội, Tịch cốc, Bạch y liên đoàn, Trung hòa học phái, Tây tòng vô cực...
Trong kháng chiến chống Pháp một số chức sắc trong các hệ phái Cao Đài thành lập tổ chức “Cao Đài cứu quốc 12 phái hợp nhất” tham gia Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt.
Trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm lược, đạo Cao đài tiếp tục phát triển đồng thời có nhiều hệ phái khác được hình thành. Đến năm 1975, đạo Cao Đài có hơn 20 tổ chức và các hệ phái khác nhau với hơn 2 triệu tín đồ, hơn 20 nghìn chức sắc, chức việc.
Đến nay đạo Cao Đài phát triển ra nhiều tỉnh miền Bắc, tổng cộng khoảng 3 triệu tín đồ, phái Cao Đài Tây Ninh lớn nhất với gần 1 triệu tín đồ.
Giáo hội Cao đài được tổ chức như một bộ máy hành chính nhà nước chia thành 6 cấp: Trung ương, Khâm Trấn (miền đạo), Khâm Châu (tỉnh đạo), Tộc (huyện đạo), Hương (xã đạo) và cuối cùng là cấp cơ sở.
Chức sắc Cao đài khá đông, có nhiều cấp bậc khác nhau, phỏng theo hàng giáo phẩm của Công giáo với tên gọi huyền bí.
Giáo lý của đạo Cao Đài
Cao Đài là danh xưng tượng trưng của Thượng Đế, được khải thị tại phương Đông lần thứ ba.
Theo đạo Cao Đài thì những Thánh giáo của các tôn giáo không được thực hành đúng, qui tắc đạo đức của loài người bị xuyên tạc, trật tự và hòa bình thế giới bị đảo lộn. Đối với những người thiếu suy nghĩ và hoài nghi, Thượng Đế chỉ tồn tại trên từ ngữ. Họ không biết rằng nơi chỗ tối cao đang ngự trị một Đấng Chúa tể của mọi sự biến đổi của vũ trụ và của tất cả số phận con người.
Thuở xưa, các dân tộc không hiểu biết nhau, thiếu các phương tiện giao lưu, Đấng Thượng Đế thiết lập trong các thời kỳ khác nhau năm nhánh của Đại Đạo (gọi là Ngũ Chi Đại Đạo) gồm:
1. Nhân đạo: Khổng giáo.
2. Thần đạo: Khương Thái Công, thờ các vị Thần.
3. Thánh đạo: Thiên Chúa giáo.
4. Tiên đạo: Lão giáo.
5. Phật đạo: Phật giáo.
Ngày nay, tất cả những phần đất của thế giới được khai phá: nhân loại hiểu biết nhau hơn, khao khát một nền hòa bình thật sự. Nhưng vì có nhiều tôn giáo nên nhân sinh luôn luôn không sống trong sự điều hòa người này với người khác. Cho nên, Đấng Thượng Đế quyết định qui hợp tất cả tôn giáo thành một mối duy nhất.
Giáo lý của đạo Cao Đài không chỉ nhằm mục đích hoà hợp các tín ngưỡng tôn giáo, mà còn thích nghi với tất cả mức độ tiến hóa của tâm linh.
1. Về phương diện đạo đức: con người có bổn phận đối với chính mình, đối với gia đình, đối với xã hội như một gia đình mở rộng, kế đó đối với nhân loại, thế giới.
2. Về phương diện triết học: khinh thường danh vọng, sự giàu có, sự xa hoa, đề cao sự giải thoát khỏi những nô lệ vật chất, tìm tòi trong tâm linh sự yên tĩnh của tâm hồn.
3. Về phương diện văn hóa: sùng bái Thượng Đế vốn tạo nên hệ thống trật tự oai nghiêm trong thế giới huyền bí. Chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên theo truyền thống dân tộc, bài trừ việc cúng bằng các thứ thịt thú vật, cũng như giấy vàng mã.
4. Về phương diện tâm linh: xác nhận sự đồng ý với các tôn giáo khác về các hệ thống triết học tâm linh, sự hiện hữu của linh hồn và sự tồn sinh của nó nơi thể xác, sự tiến hóa của linh hồn bởi sự đầu thai truyền kiếp liên tiếp, cái kết quả sau khi chết của các hành vi của con người định bởi luật Nhân quả.
5. Về phương diện truyền giáo: truyền đạo cho các tín đồ xứng đáng những giáo huấn mặc khải, cho phép các tín đồ tiến hóa tâm linh đạt đến sự hưởng thụ toàn phúc.
Đạo Cao Đài chọn Thượng đế và các Giáo chủ sáng lập ra các tôn giáo (Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử…) để thờ phượng. Thượng đế được biểu tượng bằng một con mắt - “Thiên Nhãn” và được gọi bằng những tên khác nhau như: Ngọc Hoàng, Ngọc Đế, Cao Đài, Huyền Khang Cao Thượng Đế, Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn... tên gọi thường xuyên, thông dụng và đầy đủ ý nghĩa nhất là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma-ha-tát”.
Luật lệ của đạo Cao Đài
Tín đồ đạo Cao đài phải tuân theo Ngũ giới cấm (5 điều cấm kỵ), Tứ đại điều quy (4 điều trau dồi đạo đức) và Các luật tục.
Ngũ giới cấm
1. Bất sát sinh: không được sát hại cuộc sống của loài vật.
2. Bất du đạo: không trộm cắp, tham lam, lừa hại người.
3. Bất tửu nhục: không được uống rượu, ăn thịt quá độ say sưa mà dẫn đến việc làm tội lỗi.
4. Bất tà dâm: không được lấy vợ hoặc chồng của người khác, không được đàng điếm, xúi giục người khác vi phạm luân thường.
5. Bất vọng ngữ: không được nói dối, nói thô tục, không giữ lời.
Tứ đại điều quy
1. Phải tuân lời dạy của bề trên, chẳng hổ chịu cho bậc thấp hơn điều độ. Lấy lễ hòa người. Lỡ làm lỗi, phải ăn năn chịu thiệt.
2. Chớ khoe tài, đừng cao ngạo, quên mình mà làm nên cho người. Giúp người nên đạo. Đừng nhớ cừu riêng, chớ che lấp người hiền.
3. Bạc tiền xuất nhập phân minh, đừng mượn vay không trả. Đối với trên, dưới đừng lờn dễ, trên dạy dưới lấy lễ, dưới gián trên đừng thất khiêm cung.
4. Trước mặt sau lưng, cũng đồng một bực, đừng kỉnh trước rồi khi sau.
Các luật tục
- Lập họ đạo. Địa phương nào có từ 500 tín đồ trở lên thì được lập một họ đạo, lập riêng một thánh thất. Hội thánh sẽ phái chức sắc đến cai quản thánh thất và họ đạo ấy. Muốn lập họ đạo phải xin phép giáo tông. Chức sắc phải tuân lệnh giáo tông. Họ đạo phải tuân theo chức sắc là người được Trời phong (Thiên phong) thay mặt Hội thánh đẻ cai quản.
- Luật tại thế. Anh em đồng đạo phải yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Nhân đạo có tam cương (Vua - Thầy - Cha) và ngũ thường (nhân – nghĩa - lễ - trí - tín). Không được lấy vợ lẽ, có nàng hầu. Nếu vợ chính không có con nối hậu thì được lấy vợ lẽ, song phải được vợ cả ưng thuận. Vợ chồng không được bỏ nhau, trừ ngoại tình, thất hiếu,... Con cháu của bổn đạo sinh ra sau 1 tháng phải đưa tới thánh thất để làm lễ “tắm thánh” và ghi vào sổ bộ danh của họ đạo. Trẻ em có cha đỡ đầu. đến khi lên 7 tuổi phải cho đi học học đạo, học chữ cho đến 12 tuổi (một hình thức giáo dục bắt buộc phổ cập trong đạo Cao Đài). Việc ma chay làm đơn giản, việc thờ cúng làm chay lạt. Tín đồ phải kết hôn với đồng đạo, nếu muốn lấy vợ hoặc chồng ngoại đạo (không theo Cao đài) phải được nhập đạo trước mới được kết hôn. Trước lễ thành hôn 8 ngày, nhà trai phải dán thông báo tại thánh thất nơi cư trú, khi làm lễ cưới phải làm lễ cầu chứng nơi thánh thất sở tại. Việc hành nghề phải lựa chọn: không được làm nghề sát sinh, hại vật, bại tục đồi phong.
- Luật xuất thể. Tịnh thất là nhà vắng. Tín đồ vào đó để an dưỡng thần trí, tu luyện đến công viên quả mãn. Bậc thượng thừa là những người không còn dính dáng đến gia đình nữa mới được nhập vào tịnh thất. Hội thánh sẽ xem xét cặn kẽ trước khi thu nạp một tín đồ vào tịnh thất. Tịnh thất có kỷ luật riêng, người được thu nhận vào tịnh nhất thì không được giao tiếp với đời thường nữa và cũng không được phép giao tiếp với người ngoại đạo.
- Luật trừng phạt. Kẻ nào phạm giới luật thì phải vui lòng nghe theo bạn hữu mà cải quá khi được khuyên nhủ. Nếu đã được người khác khuyên 2 - 3 lần mà vẫn phạm giới thì sẽ bị trình với chức sắc cai quản thánh thất nơi tín đồ thờ phụng. Sau khi được người đứng đầu họ đạo khuyên can mà người đó vẫn phạm thì sẽ bị đưa ra cộng đồng họ đạo xem xét và có thể bị trục xuất nếu thấy không thể tha thứ được.
- Ăn chay. Phương pháp để tín đồ tu luyện. Trong không khí có điện quang, nên người ăn mặn mà luyện đạo đến khi xuất thần thì nhơn thần ấy vẫn còn trược khí lẫn lộn. Mà trược khí là vật chất hay tiếp dẫn điện quang, khi chưa ra khỏi làn không khí thì đã bị sét đánh chết. Lý do thứ 2 để phải ăn chay là theo luật hấp dẫn, nếu nhơn thần còn trược khí, khi xuất ngoại bị hấp lực của cõi trần vật chất giam hãm vào vòng sinh tử. Và con một lý do nữa là tín đồ cần sạch sẽ trong và ngoài. ăn chay là để giữ gìn sự sạch sẽ bên trong cơ thể. Ăn chay trong 1 tháng phải từ 6 ngày (lục trai) đến 10 ngày (thập trai) và ăn chay trường (trường trai).
- Tín đồ. Muốn trở thành tín đồ đạo Cao đài, thì phải hiểu đạo lý, thuộc kinh sách, đi lễ bái và giữ các đạo luật. Con cái tín đồ phải theo phép đạo. Tín đồ có ba loại hạ thừa, trung thừa và thượng thừa. Hạ thừa là nhữrtg tín đổ giữ gìn luật lễ thường như ăn chay 6 đến 10 ngày trong một tháng; trung thừa có đạo hành phán tháng ăn chay từ 6 ngày đến 16 ngày một tháng; còn thượng thừa là hiến trọn vẹn cho đạo (ăn chay 100% - trường chay) thường là chức sắc chuyên nghiệp. Người ngoại đạo muốn trở thành tín đồ Cao Đài phải được 2 đạo hữu hướng dẫn và có trách nhiệm kèm cặp, dìu dắt tín đồ mới. Chức sắc cai quản thánh thất nơi có người tự nguyện nhập đạo đến tận nhà tín đồ mới hành lễ thượng tượng và chỉ vẽ cách phụng thờ, cúng lạy, nhất là cách thực hiện đạo luật. Người đã được nhập đạo gọi là Môn đệ đức Chí tôn và là anh em (đạo hữu) với người đồng đạo và có trách nhiệm giúp đỡ nhau.
Lễ nghi thờ phượng của đạo Cao Đài
Đạo Cao Đài có tháng có 8 lễ trọng, chủ yếu vào ngày rằm có 6 lễ. Ngoài ra, mỗi hệ phái lại có các ngày lễ riêng kỷ niệm ngày lập hệ phái, ngày giỗ, ngày sinh của người khai lập hệ phái.
Lễ nghi của đạo Cao đài cầu kỳ. Lễ phục theo hát hội, lễ nghi phỏng theo tam giáo (Nho - Phật - Lão). Kinh kệ soạn theo văn vần dễ đọc, dễ nhớ, đọc lên như hát (nam ai, nam ruân). Có các loại kinh: nhật tụng (đọc hàng ngày), sinh hoạt, hôn lễ, tang lễ.
Lễ phẩm của đạo Cao đài gồm 5 cây hương (tượng trưng của ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ); rượu, trà, hoa (tượng trưng cho tam bảo tinh - khí - thần, nền tảng của sự sống theo quan điểm Lão giáo); khi dâng lễ tín đồ phải đi theo hình chữ “tâm” là biểu hiện tư tưởng Nho giáo; cách làm dấu tay theo kiểu Công giáo song không biểu hiện 3 ngôi Cha - Con - Thánh thần của Công giáo mà theo quan niệm “tam bảo” của Phật giáo: Phật - Pháp - Tăng.
Dàn nhạc lễ gồm các nhạc cụ dân tộc, trống, chiêng. Y phục lễ của tín đồ màu trắng, của chức sắc dùng theo màu từng ngành. Thái (Phật giáo) màu vàng, Thượng (Lão giáo) màu xanh, Ngọc (Nho giáo) màu đỏ được cắt may theo phẩm phục của vua quan phong kiến Á đông.
Sự ra đời và phát triển của đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo - là một đạo lớn ở đồng bằng sông Cửu Long - ra đời năm 1939 tại làng Hòa Hảo, chợ Mới, An Giang. Người sáng lập ra đạo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ - còn thứ tư một địa chủ nhỏ ở làng Hòa Hảo, ông Huỳnh Công Bộ - thiếu thời vẫn là người lãnh đạm, trầm tính, ít vui đùa ca hát, thường xa lánh chốn đông người ồn ào.
Ông sinh ngày 15-1-1920 (tức 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi). Ông được học hết bậc sơ học Pháp - Việt tại một trường huyện và có năng khiếu văn, thơ và thông minh, nhạy cảm. Do sức khỏe luôn đau ốm nên ông không tiếp tục học lên bậc cao hơn. Ông phải lên núi Cấm tìm thầy chữa bệnh và tại đây ông đã tu theo phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật thày Đoàn Minh Huyên làm giáo chủ.
Huỳnh Phú Sổ tự nhận là bậc “sinh như tri” biết được quá khứ nhìn thấu tương lai. Được thọ mệnh cùng với Phật Adiđà và Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngọc Hoàng Thượng đế phái xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “Chấn hưng Phật giáo cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và chốn Tây phương cực lạc”. Ông chữa bệnh cho nhân dân bằng các bài thuốc dân gian và chính những lúc đi chữa bệnh đó ông đã kết hợp rao giảng về Tứ ân hiếu nghĩa của Phật thày Tây An qua những bài sấm kệ do ông soạn thảo. Vì vậy, chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng. Ngày 15-5 năm Kỷ Mão (tức 4-7-1939) được ông chọn làm ngày khai đạo - khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo là chính gia đình ông. Ông đã lấy tên làng Hòa Hảo nơi ông đã sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa Hảo hay còn gọi Phật giáo Hòa Hảo. Ông được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ đạo Hòa Hảo.
Huỳnh Phú Sổ tự xưng là Phật thày mượn thân xác mình để cứu độ chúng sinh. Ông làm nhiều bài ca dao, thơ ca, nói thiên cơ, sau được tập hợp lại thành bài giảng “Giác mê tâm kệ” có phần gần gũi tư tưởng thần bí, tín ngưỡng dân gian nên trong hoàn cảnh đời sống nhân dân Nam Bộ đầu những năm 40 của thế kỷ 20 dễ đi vào lòng người, được quần chúng tin theo. Muốn trở thành tín đồ Hòa Hảo phải tuyên thệ “một đời, một đạo đến ngày chung thân”.
Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số tín đồ của mình lên nhanh chóng. Khi Nhật vào đông Dương, Pháp lo ngại Nhật tranh thủ giáo phái Hòa Hảo, nên đã câu thúc ông ở Châu Đốc, Bạc Liêu, Cần Thơ.
Năm 1942, Nhật vận động được Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ về Sài Gòn. Tại đây ông đã vận động được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để gây thanh thế, đồng thời cùng thời gian này nhiều thanh niên theo đạo Hòa Hảo tham gia các tổ chức của Nhật.
Năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ông Huỳnh Phú Sổ đi vận động “khuyến nông” và truyền bá tư tưởng “Đại Đông Á” của Nhật kêu gọi thanh niên vào lực lượng vũ trang. Ông cũng là người tham gia Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945. Do đó, trong giai đoạn đầu kháng chiến ở Nam Bộ ông được mời tham gia Ủy ban kháng chiến Nam Bộ với tư cách đại diện cho đồng bào theo đạo Hòa Hảo.
Năm 1946, ông Huỳnh Phú Sổ cùng với những người lãnnh đạo Hòa Hảo thành lập tổ chức “Việt Nam dân chủ xã hội đảng” viết tắt là “Đảng Dân xã” bao gồm lực lượng nòng cốt trong đạo Hòa Hảo và tổ chức Việt Nam quốc gia độc lập đảng. Đảng Dân xã có điều lệ và chương trình hành động, cơ cấu tổ chức riêng, có vai trò như một tổ chức chính trị. Từ đó Hòa Hảo vừa có đạo vừa có đảng và nó mang hình thức một tổ chức chính trị. Sau khi lập đảng chính trị, Hòa Hảo còn lập lực lượng vũ trang riêng mang tên bộ đội Nguyễn Trung Trực.
Năm 1947, Huỳnh Phú Sổ mất. Lực lượng phản động tìm cách chia rẽ những phần tử quá khích trong đạo Hòa Hảo để chống lại Việt Minh, gây ra những vụ thảm sát đau lòng.
Nội bộ đạo Hòa Hảo có sự chia rẽ thành các nhóm khác nhau, cát cứ ở các vùng thuộc Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc.
Năm 1964, đạo Hòa Hảo có sự củng cố lại về tổ chức, xây dựng mở mang các cơ sở tôn giáo, văn hóa, xã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ Trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã), Đảng Dân xã cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo. Đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự chia đôi gồm hai ban trị sự trung ương; phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu.
Năm 1972, Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập Ban trị sự trung ương mới. Lúc này, Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến ngày miền Nam giải phóng. Sau đó, Hòa Hảo thành lập Tổng đoàn bảo an, lập Viện đại học Hòa Hảo.
Đến nay, đạo Hòa Hảo vẫn phát triển chủ yếu trong khu vực tứ giác Long Xuyên. Số lượng tín đồ có khoảng 2 triệu người.
Giáo lí đạo Hòa Hảo
Giáo lí đạo Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do ông Huỳnh Phú Sổ biên soạn, gồm 6 tập:
- Sấm khuyên người đi tu niệm.
- Kệ của người Khùng.
- Sấm giảng.
- Giác mê tấm kệ.
- Khuyến thiện.
- Những điều sơ học cần thiết của kẻ tu hiền.
Có thể nhận thấy giáo lý đạo Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật thày Tây An, gồm phần học Phật và phần tu nhân.
Phần học Phật chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Phật, song được giản lược nhiều và có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay, ở hiền.
Phần tu nhân, theo giáo lý Hòa Hảo tu nhân là tu “tứ ân hiểu nghĩa” - đó là 4 điều mà Phật thày Tây An đã chỉ ra: Ân tổ tiên cha mẹ; Ân đất nước; Ân đồng bào nhân loại và Ân tam bảo (Phật - Pháp - Tăng).
Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên Đức-Công có Công-Đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người.
“Thiên kinh vạn điển, hiền nghĩa vi tiên”. Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa. “Dụng tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên đạo viễn ký” (muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời).
Luật, lễ nghi và tổ chức của đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời. Không có nơi thờ công cộng, trung tâm của đạo ở làng Hòa Hảo gọi là tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc. Đạo Hòa Hảo không xây dựng chùa chiền, không có tượng ảnh thờ. Việc thờ của đạo Hòa Hảo là miếng vải đỏ (trần điều) trên.ban thờ (còn gọi là trang thờ) đặt ở gian chính giữa và xây một bàn thông thiên ở sân trước của nhà. Việc thờ phụng này thể hiện tư tuởng của Phật giáo “Phật tại tâm, tâm tức Phật”.
Đạo Hòa Hảo ngoài việc tôn thờ Phật, ông bà tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với nước, không thờ các thần thánh nếu không rõ căn nguyên.
Lễ vật khi thờ phúng cũng rất đơn giản chỉ có hương hoa và nước lạnh (nước mưa, nước lọc thanh khiết). Ban đêm đốt đèn ở ban thờ trong nhà và ban thờ thông thiên.
Khi thờ tín đồ chỉ đọc sấm giảng của Thày Huỳnh Phú Sổ soạn, không phải đọc kinh Phật và niệm lục tự (6 chữ: Nammôadiđàphật) để tĩnh tâm. Chính vì vậy mà Hòa Hảo còn được gọi là Pháp môn Tịnh độ học Phật, tu nhân.
Ngoài ra, đạo Hòa Hảo còn một số quy định về tôn giáo và quan hệ gia đình, xã hội như là nguời nhập môn phải tuyên thệ trước tam bảo; nam tín đồ phải để vấn tóc (búi) giữ hiếu nghĩa với ông bà, tổ tiên; tín đồ phải thực hiện ăn chay từ thấp đến cao (6, l0 ngày trong một tháng hoặc trường chay), những ngày ăn chay màn phải kiêng ăn thịt 12 con giáp; ngày 2 lần tín đồ phải cầu nguyện và khấn lạy trước ban thờ (sáng, tối). Lời khấn nguyện khi cúng lễ của tín đồ Hòa Hảo là câu “Nam mô nhất nguyện, Thiên hoàng, địa hoàng, Nhân hoàng, Liên hoa hải hội, thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an!'.
Trong mỗi năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, tết chính: Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên đán.
Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ thượng nguyên.
Ngày 8 tháng Tư: Lễ Phật đản.
Ngày 18 tháng Năm: Lễ khai đạo.
Ngày Rằm tháng Bảy: Lễ trung nguyên.
Ngày 12 tháng Tám: Vía Phật thày Tây An.
Ngày Rằm tháng Mười: Lễ hạ nguyên.
Ngày Rằm tháng Một: Lễ Phật Adiđà.
Ngày 28 tháng Một: Lễ sinh nhật giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.
Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo.
Ngoài ra còn có một số ngày lễ kỷ niệm các Phật tử Phật thày Tây An.
Đạo Hòa Hảo với giáo lý, giáo lễ như trên nên chủ trương không có hàng giáo phẩm và hệ thống tổ chức của đạo.
Sau này khi đã phát triển, do những nglrời lãnh đạo kế nhiệm, đạo Hòa Hảo đã hình thành tổ chức đạo có hệ thống từ trung ương tới cơ sở như các ban trị sự.
(Nguồn: “Bách khoa tri thức phổ thông” -Internet)